Chương 397: Người Nhớ Đường
Hổ cắn quả mận, im lặng nhai hết một miếng.
Bảo nhìn anh chờ đợi. Một lúc sau, Hổ mới nói: “Chua.”
“Chỉ thế thôi ạ?”
“Còn cứng.”
Bảo thất vọng. Hắn tưởng ít nhất anh cũng phải nhăn mặt như mình. Hổ đặt nửa quả còn lại lên bàn, lấy kìm kéo chiếc chốt ra khỏi bánh xe. Ô Kê đứng cạnh, thò đầu nhìn. Lần này con gà không mổ mận nữa.
“Chiều còn đi hỏi không?” Hổ hỏi.
“Bà bên cây mận bảo sẽ hỏi con gái rồi nhắn tới.”
“Vậy tốt. Ta sửa xong xe trước.”
Chiếc chốt cũ cong ở giữa. Hổ nắn thử, nhưng đầu chốt đã mòn, không giữ chắc bánh được lâu. Tín mang đến một chiếc khác tìm trong hòm đồ. Anh đo thử, thấy dài hơn một đoạn; nếu đóng ngay, đầu nhọn sẽ cạ vào chân người đẩy.
Bảo định bảo cứ buộc vải quanh đầu chốt. Hổ lắc đầu: “Vải có thể tuột. Ta cắt bớt rồi mài.”
Hai người đưa xe ra sân làm việc. Bảo trở vào phòng trực, ngồi nơi có thể nhìn thấy cửa gian chính. Hắn nghe tiếng giũa kim loại đều đều. Người đàn ông giữ danh sách đang nghỉ, tập giấy buộc vải đặt trên ghế cạnh ông. Người nhà ngồi vá lại chiếc túi đựng giấy; miệng túi bị sờn nên mỗi lần mở đều mắc vào dây buộc.
Thanh Nghi đến, mang theo tờ chép lời người đàn bà bên cây mận. Nàng hỏi người nhà có muốn xem phần ghi về căn nhà đã chuyển không. Người ấy đọc xong, chỉ vào câu *theo người quen ra trạm*.
“Ta biết một người từng đi cùng chuyến ấy,” người nhà nói. “Nhưng đã lâu không gặp. Ta chỉ nhớ họ gọi người đó là chú Quý.”
Người đàn ông trên ghế mở mắt. “Quý bán dầu?”
“Có thể. Con không chắc.”
Ông ngồi dậy, hỏi xin tờ giấy. Thanh Nghi đưa cho ông. Ông nhìn một lúc rồi nói: “Ta nhớ có chuyến xe chở dầu qua trạm. Không biết có phải chuyến nhà kia đi hay không.”
Bảo ghi hai điều vào sổ nháp, mỗi điều một dòng: người nhà nhớ tên gọi chú Quý; người đàn ông nhớ chuyến xe chở dầu nhưng chưa xác định cùng chuyến. Hắn đọc lại, hai người đều bảo đúng. Người nhà đề nghị hỏi ông Thuận vì ông thường biết chuyện xe qua chợ. Ông giữ danh sách đồng ý, nhưng dặn đừng nói chú Quý đã đưa nhà kia đi khi chưa rõ.
Ông Thuận đến lúc nồi cơm trưa vừa mở vung. Ông mang một bó hành và hỏi còn nước nóng không. Tín đưa ấm cho ông, tiện mời ông dùng cơm. Ông nhận một bát nhỏ, đặt bó hành lên bàn bếp.
“Nhà ta nhổ nhiều,” ông nói. “Để phần nào các người dùng được thì dùng, đừng cất cả bó đến héo.”
Tín hỏi có cần để lại ít hành cho ông mang về. Ông lắc đầu, bảo nhà còn. Bảo nghe xong, hỏi ông về chuyến xe chở dầu. Ông Thuận nhớ chú Quý từng bán dầu ở chợ và có đưa hàng qua trạm, nhưng không nhớ người trên xe vào chuyến ấy.
“Ta có thể hỏi bà bán đậu,” ông nói. “Bà ấy từng mua dầu của Quý, có khi còn biết nhà ông ấy.”
“Ông đi ngay được không?” Bảo hỏi.
Ông Thuận nhìn bát cơm vừa được xới. “Để ta ăn đã.”
Bảo đỏ mặt, lùi khỏi cửa bếp. Tín đẩy cho hắn một đôi đũa: “Ngươi cũng ăn đi. Để ông ấy ăn yên.”
Bảo ngồi xuống bên cạnh. Cơm có rau và chút canh hành mới nấu. Ông Thuận gắp miếng rau, nhắc Tín nêm nhạt hơn cho người đang mệt ở gian chính. Tín đáp đã để riêng một bát trước khi thêm muối. Câu chuyện chuyển sang chuyện bếp lò bị hụt gió khi trời đổi chiều. Bảo muốn hỏi thêm về người bán đậu, nhưng nhìn bát cơm của ông Thuận, hắn kiên nhẫn đợi.
Sau bữa ăn, ông Thuận mang nước nóng về nhà rồi mới ghé chợ. Ông không hẹn chính xác giờ trở lại. Bảo viết việc ấy vào sổ: *Ông Thuận sẽ hỏi bà bán đậu nếu gặp.* Dưới dòng đó hắn để trống, không ghi kết quả.
Đến lượt đổi ca, Hổ đã lắp chốt mới. Anh đặt chiếc xe trên nền bằng, đẩy tiến rồi kéo lùi. Bánh lăn được, nhưng khi chở người vẫn phải thử trên đoạn rãnh đã kê ván. Người nhà ông giữ danh sách nói buổi chiều có thể giúp thử bằng một bao gạo nhỏ trước. Hổ đồng ý, không dùng chính ông làm người thử khi ông chưa cần đi đâu.
Bảo theo Hổ vào phòng trực. Bát nước xuống thêm một ít, vẫn trên vạch thấp. Họ đặt thước cạnh bát như hôm trước, so với vết đã đánh dấu. Bảo ghi lại rồi hỏi có nên báo Dư An chưa.
“Báo để ông biết cũng được,” Hổ nói. “Nhưng bà Mạnh dặn gọi khi nước xuống tới vạch hoặc xuống nhanh. Hiện giờ chưa đến mức ấy.”
Hắn nhờ Tín chuyển tin khi Tín đi qua nhà Dư An. Tín nhận lời, nhắc hắn ghi thời điểm quan sát để khỏi nhầm với lần trước. Bảo đưa sổ cho anh xem. Chữ hắn không đẹp, nhưng các con số vẫn đọc được.
Ngoài sân, người con gái nhà bên cây mận đến trước khi trời dịu. Cô xắn ống quần tới bắp chân, trên tay còn dính bùn ruộng. Thấy Bảo ở cửa phòng, cô hỏi người đã ghé nhà sáng nay có ở đây không.
Thanh Nghi ra đón. Cô gái bảo mẹ kể lại việc họ hỏi và nhờ mình nói điều còn nhớ. Hôm đưa túi gạo, cô còn nhỏ; người nhận túi ở cuối xóm đã chuyển đi, cô không biết bây giờ ở đâu. Nhưng cô nhớ người nhà cũ có để lại một chiếc bát sứt miệng, nói sẽ quay lại lấy khi có dịp.
“Bát ở đâu?” Bảo hỏi.
“Mẹ ta vẫn giữ. Bà bảo nếu gặp đúng người thì trả.”
“Trong bát có ghi tên không?”
“Không. Chỉ có vết sứt.”
Bảo nhìn Thanh Nghi. Một chiếc bát sứt không thể cho họ địa chỉ. Cô gái thấy vẻ mặt hắn, nói tiếp: “Ta nhớ hôm ấy người nhà kia dặn nếu gửi tin thì nhờ người chở dầu. Mẹ bảo có thể là chú Quý, nhưng ta không nhớ mặt ông ấy.”
Lời của cô gần với điều người nhà ông giữ danh sách vừa kể. Tuy vậy, không ai trong hai người chắc người chở dầu là chú Quý. Thanh Nghi viết riêng từng lời, đọc lại cho cô gái nghe. Cô sửa một chỗ: cô không nhớ người nhà kia tự lên xe dầu, chỉ nhớ họ dặn nhờ người chở dầu gửi tin. Nàng gạch câu cũ, viết lại.
Bảo hỏi cô có muốn ở lại uống nước không. Cô nhìn bùn trên chân, định ra giếng rửa trước. Tín mang cho cô một gáo nước và chiếc khăn cũ. Cô cảm ơn, rửa xong mới bước vào gian bếp. Khi nhận bát nước, cô hỏi người đàn ông đang ngồi ở gian chính có phải người giữ sổ ngày trước không.
Ông nghe tiếng, quay lại. Hai người nhìn nhau một lúc; cô nói tên mẹ mình. Ông nhớ ra cây mận, còn hỏi năm nay có nhiều quả không. Cô bảo không nhiều, lại bị mấy người hái khi còn xanh. Bảo cúi đầu nhìn bát nước, cố làm như không nghe thấy.
Người nhà ông giữ danh sách đem tờ chép ra. Cô gái xác nhận căn nhà họ hỏi nằm cạnh lối ra ruộng, nhưng nhắc đó là nhà cũ, không biết nơi ở hiện tại. Ông bảo nhớ rồi, xin cô cho xem chiếc bát vào dịp khác. Cô nói sẽ hỏi mẹ; chiếc bát do mẹ giữ, cô không tự hứa mang đi.
Cô gái ở lại ăn một bát cơm muộn. Tín thêm canh, cô xin ít hơn vì còn phải về. Trước khi đi, cô nhận đưa một tờ nhắn cảm ơn của bác giữ dây về cho mẹ. Bảo không viết thêm câu hỏi mới; hắn thấy họ đã nhờ bà nhiều trong một ngày.
Buổi chiều, ông Thuận quay lại cùng một tin. Bà bán đậu cho biết chú Quý không còn bán dầu ở chợ làng; bà nghe nói ông có người thân ở trạm, nhưng lần cuối gặp đã lâu. Bà không biết ông hiện ở đâu và không chắc có thể gửi thư qua người thân ấy.
“Bà ấy còn giữ một vỏ chai dầu có dấu của nhà Quý,” ông Thuận kể. “Bà nói có thể đem cho các con xem, nếu cần.”
Bảo hỏi: “Dấu ấy có địa chỉ không?”
“Bà không nói. Ta chưa xem.”
Hắn suýt bảo ông đi lấy ngay. Nhưng ông Thuận đã gánh nước về, ghé chợ, rồi quay tới từ đường. Hắn nhìn đôi vai ướt mồ hôi của ông và hỏi ông có mệt không. Ông bảo mệt, nhưng nếu mai tiện qua chợ sẽ ghé hỏi thêm. Bảo không biết một dấu trên chai có thể giúp được bao nhiêu. Hắn vẫn cảm ơn ông vì đã hỏi.
Cuối ngày, người nhà của ông giữ danh sách đề nghị tự đến chợ sáng mai. Thanh Nghi nhắc ông Thuận đã nói có thể hỏi. Người ấy đáp: “Ta muốn đi cùng, nếu ông Thuận không phiền. Ta nhớ được ít quá, nhưng còn đôi chân.”
Ông giữ danh sách ngồi bên cạnh, đưa tay chạm vào miệng túi mới vá. “Đi đi. Về kể ta nghe.”
Người nhà hỏi ông có muốn giữ bản ghi trong lúc mình vắng. Ông bảo không cần; tập giấy vẫn ở chỗ ông, còn tờ chép có thể mang theo. Thanh Nghi gấp tờ giấy làm đôi, đặt vào túi áo người ấy.
Khi bàn giao ca tối, Hổ đọc cho Bảo những việc đã ghi. Bát nước chưa tới vạch. Dư An đã nhận tin qua Tín và dặn tiếp tục theo dõi theo lời bà Mạnh; ông sẽ ghé xem vào sáng mai. Không có dấu hiệu nào khiến họ phải gọi ngay trong đêm.
Bảo thắp thêm đèn ở gian chính theo lời người nhà ông giữ danh sách. Ông đang tự lật tập giấy, chậm rãi tìm một trang. Thấy Bảo nhìn, ông nói: “Ngày trước ta ghi đường cho người khác. Có người không biết chữ, ta vẽ thêm cây cầu, cây đa.”
Ông mở một trang có nét mực đã nhòe. Một con đường ngoằn ngoèo, bên cạnh là hình vuông có mái và một nét cong. Ông chỉ vào nét cong: “Cây mận. Ta vẽ xấu, nhưng người đi vẫn tìm được.”
“Vậy sao ông không vẽ đường mới?” Bảo hỏi.
“Ta chưa biết đường mới.” Ông gập trang giấy, ngước nhìn hắn. “Biết thì ta đã vẽ.”
Bảo ngồi xuống ghế đối diện. Hắn nghĩ đến người nhà đã ra trạm, đến chiếc bát còn nằm ở nhà bên cây mận và người chở dầu chưa tìm thấy. Hắn không thể vẽ thay đoạn đường chưa biết. Nhưng ngày mai có người đi hỏi tiếp, và ông đã chỉ được nơi bắt đầu trên trang giấy của mình.
Trong bếp, Tín lấy hành còn lại buộc lại, treo lên chỗ thoáng. Ô Kê mổ một hạt cơm rơi rồi chạy theo Hổ ra sân. Bảo chờ người đàn ông cất tập giấy, mới đưa đèn lại gần để ông nhìn rõ nút buộc.
“Ông vẽ cây mận giống cái chổi,” hắn nói.
Ông nhìn hắn, rồi bật cười. “Ngày mai ngươi thử vẽ xem.”