Chương 192: Đường Lên Sân Đá
Người trông đường đồng ý cho họ lên núi vào buổi sáng.
Ông Từ mang lời trả về hai ngày sau cuộc gặp. Đoạn đường qua đất của người địa phương đã được xem lại; họ có thể đi tới sân đá và trở xuống trước tối. Người trông đường dặn không tháo đá khỏi bệ, không lấy vật ở sân, nếu có gì cần dịch chuyển thì hỏi ông trước.
Tạ Tiểu Bảo đọc lời ấy cùng Hứa Đồng. Hắn hỏi có được chép chữ trên bia không. Ông Từ nói người trông đường đồng ý cho nhìn và ghi, miễn không cạo hay làm mòn mặt đá. Hứa Đồng viết tên người đã báo và việc được phép vào tờ đi đường.
“Có ai về cùng nếu một người không đi tiếp được?” Bảo hỏi.
“Người ở chân núi đã nhận chờ tới giờ hẹn,” ông Từ đáp. “Nếu cần quay lại, ta đưa người ấy xuống chỗ họ. Không ai phải đi một mình.”
Lục Thanh Nghi xem bản mô tả đường cùng Dư An. Ông hỏi cả nàng và Bảo về chân, xem họ bước lên xuống bậc thấp, rồi nhắc quãng núi dài hơn mấy bước ở y vụ. Hai người có thể thử trong điều kiện đã nói: đi chậm, có chỗ nghỉ, không khiêng hàng; đau tăng thì báo. Ông không hứa họ sẽ tới sân bằng mọi giá.
Hổ nghe tin ở sân, tới tìm Bảo với một túi bánh. Hắn đã hỏi người phụ trách nhưng ca luyện hôm ấy không đổi được. Hắn đặt túi xuống bàn.
“Ta không đi.”
“Ta biết.”
“Ngươi có thể nói nghe tiếc hơn một chút.”
“Ta tiếc. Bánh của ngươi sẽ đi thay.”
Hổ nhìn túi, rồi đẩy về phía bạn. “Hai cái. Một cái cho Thanh Nghi, một cái cho ngươi.”
“Ông Từ thì sao?”
“Ông ấy có phần đường của ông ấy.”
“Ngươi chắc?”
“Ta đã hỏi người xếp đồ.”
Bảo nhận túi, hứa nếu không ăn sẽ mang về; Hổ bảo đừng hứa điều khó làm. Hai người tới khu nuôi. Người coi đã đồng ý trông Ô Kê trong ngày, Hổ sẽ ghé kiểm cùng vào buổi chiều với sự đồng ý của ông. Bảo thay nước, kiểm chốt rồi bảo con gà mình sẽ về trước tối nếu đường không đổi.
“Ngươi có định để nó trả lời không?” Hổ hỏi.
“Nó đang ăn.”
Hắn khóa phòng, không mang chiếc nồi bọc vải. Mộc Vô Nhai biết giờ đi và nơi có thể hỏi tin. Lão nhìn túi của Bảo, hỏi có nước không; hắn lấy bình nhỏ cho xem. Lão đặt thêm một mảnh vải sạch vào túi, nói dùng để lau tay, không phải chà bia.
Ở sân ngoài, Thanh Nghi đã tới. Nàng mang sổ nhỏ, nước và phần ăn. Ông Từ đứng cạnh chiếc xe đưa họ tới chân núi; người trẻ của hội bàn công dẫn đường với ông theo tờ hẹn riêng. Ba người lên núi là Bảo, Thanh Nghi và ông Từ; người đánh xe đưa tới chân núi, người địa phương chờ ở đó theo thỏa thuận.
Hứa Đồng giao Bảo một tờ ghi nơi đi, giờ dự kiến về và những việc sẽ làm. Bảo đọc: nhìn, ghi tên và tình trạng sân theo điều quan sát được; không tự lấy đồ hay tháo đá. Hắn hỏi nếu thấy chữ không đọc được thì sao. Ông đáp ghi chỗ không đọc được, có thể hỏi người biết chữ sau.
“Con có được ghi chuyện không giống mong đợi không?”
“Càng phải ghi.”
Xe rời sân khi trời đã sáng. Con đường đầu chạy giữa những thửa ruộng, rồi dốc dần. Thanh Nghi ngồi gần Bảo, đặt túi trên đùi; hai người đều có chỗ duỗi chân. Ông Từ chỉ một đường rẽ về phía bến, nói lối ấy dùng cho hàng đi vòng theo sơ đồ hội. Chuyến hôm nay không đi bến, mà tới chân núi theo đường gần.
“Có phải chỗ trên bản chín vòng không?” Bảo hỏi.
“Vùng này được người giữ giấy khoanh gần một vòng. Ta biết sân đá, không biết người vẽ đứng ở đâu.”
Bảo viết đúng lời ấy. Thanh Nghi nhìn chữ, bảo hắn thêm tên ông Từ và ngày hỏi; hắn thêm, không viết rằng sân đá chính là một cửa.
Tới chân núi, người trông đường đã đợi dưới mái. Ông xem tờ đi đường, hỏi họ mang gì lên. Bảo đưa sổ, bút, nước và túi bánh; Thanh Nghi có sổ của nàng. Ông Từ mang gậy. Không ai mang nồi hay đồ để đào.
Người trông đường chỉ lối, nhắc một phiến đá nghiêng sau đoạn dốc. Người hỗ trợ chặng về ngồi ở mái dưới, nhận chờ tới giờ hẹn; nếu đoàn trở xuống muộn, ông Từ sẽ báo người đó. Bảo hỏi nếu cả ba cùng xuống đúng giờ có phải trả công chờ không. Người trẻ đã thỏa thuận công với người địa phương; người hỗ trợ nói phần ấy được tính, không cần Bảo đưa riêng.
Họ bắt đầu đi. Ông Từ dẫn trước, Thanh Nghi ở giữa, Bảo đi sau. Dốc không cao liên tục; có những quãng bằng ngắn xen bậc đá. Bảo đặt chân cẩn thận, không đuổi theo khi ông Từ bước nhanh. Thanh Nghi xin dừng một lần ở gốc cây để kiểm lại dây giày; Bảo nhân đó duỗi chân.
“Ngươi có muốn về không?” nàng hỏi.
“Chưa. Còn ngươi?”
“Ta cần nghỉ thêm một lát.”
Ông Từ đưa nước, ngồi xuống thay vì đứng đợi. Lão chỉ một vệt trên đá: mùa mưa nước chảy qua đây, mùa khô chỉ còn màu sẫm. Bảo hỏi có phải dấu người làm không. Ông nói không biết, mình thấy nó từ lần đầu đi.
Họ tiếp tục khi cả hai đồng ý. Qua phiến đá nghiêng là một khoảng cây thấp. Rồi mặt đất mở ra, và sân đá hiện trước mắt.
Nó nhỏ hơn Bảo tưởng. Những phiến lát không đều, vài khe có cỏ mọc. Ở giữa là một bệ xây thấp, trên mặt có vết đen mờ. Phía bên có một tấm bia nghiêng, chân bia vẫn chôn trong đất. Không có người đứng cạnh bệ, cũng không có tiếng lửa.
Ông Từ dừng ở rìa sân. “Ta đã thấy như vậy lần trước. Nhưng cỏ mọc thêm.”
Bảo nhìn quanh, tìm chỗ đặt chân không dẫm lên bia. Thanh Nghi đứng cạnh hắn, đọc phần chữ phía trên; nắng nghiêng làm vài nét hiện rõ, những nét dưới bị đất và cỏ che.
“Có tên người,” nàng nói.
“Bao nhiêu?”
“Ta chưa đọc hết.”
Bảo lấy sổ, ghi điều mình thấy: sân đá, bệ thấp, tấm bia nghiêng. Hắn chừa chỗ cho tên trên bia, không đếm người chỉ bằng số dòng bị che. Ông Từ chỉ góc sân có một lối nước cũ; đất lá tích ở đó khiến một vũng nhỏ đọng lại.
“Có thể dọn lá khỏi lối nước không?” Bảo hỏi.
Ông Từ nói điều ấy phải hỏi người trông đường, vì họ đã dặn không tự dịch chuyển vật ở sân. Bảo nhìn vũng nước, muốn đưa tay hốt lá, rồi dừng. Thanh Nghi đề nghị trước hết chép phần nhìn rõ; lúc xuống họ hỏi về lối nước.
Hắn ngồi trên một phiến đá cách bia, lấy bánh Hổ đưa ra. Một chiếc cho Thanh Nghi, một chiếc cho hắn; nàng bẻ một miếng mời ông Từ. Ông nói đã ăn phần của mình, nhưng nhận miếng ấy và lấy trong túi một quả nhỏ chia lại. Ba người uống nước, không dùng chiếc bệ làm bàn.
Bảo đọc được một tên ở dòng đầu nhưng không chắc nét cuối. Thanh Nghi so với nét khác trên bia, nói có thể là cùng một chữ; nàng chưa khẳng định. Hắn vẽ nét còn thấy vào sổ, để trống phần mất.
“Bếp này đã tắt,” ông Từ nói.
“Ông biết nó từng dùng làm bếp?” Bảo hỏi.
“Người dưới núi gọi thế. Ta thấy bệ và vết đen; ta chưa thấy ai nấu ở đây.”
Hắn ghi cả hai: người dưới núi gọi là bếp cũ, ông Từ chỉ thấy bệ và vết đen. Thanh Nghi nhìn những dòng tên, hỏi liệu người dưới núi biết ai trong số này không. Ông Từ hứa hỏi khi xuống, không tự đoán tên nào còn người nhận.
Mặt trời đã qua ngọn cây. Họ còn đủ giờ để về theo hẹn, nhưng không nên ở tới lúc đường tối. Bảo đếm số phiến quanh bệ từ chỗ ngồi, mới đếm tới một góc thì Thanh Nghi nhắc hắn có thể ghi tiếp lần khác. Hắn nhìn phần sân chưa đếm, đóng sổ.
“Con chưa làm xong.”
“Ngươi đã ghi được những gì hôm nay thấy,” ông Từ nói. “Đường xuống vẫn còn.”
Họ rời sân, không mang vật nào theo. Ở chân núi, người trông đường nghe chuyện lối nước, đồng ý cho dọn lá rời vào lần tới nếu có người của ông cùng xem; không được nhấc đá. Người hỗ trợ xác nhận họ đã về đủ ba người, rồi nhận công chờ theo thỏa thuận.
Xe đưa họ về ngoại viện trước tối. Dư An hỏi chân hai người, dặn nghỉ và báo nếu đau tăng. Hứa Đồng nhận bản ghi, để Bảo chỉ những chữ chưa chắc. Thanh Nghi nói tấm bia có tên, nhưng chưa thể đọc hết; ông không gọi sân ấy là một cửa chỉ dựa vào chuyến này.
Hổ chờ ở khu nuôi, báo Ô Kê đã ăn và nước còn. Hắn hỏi bánh có tới đủ người không. Bảo kể ông Từ có phần riêng, cả ba đã ăn và không còn chiếc nào mang về. Hổ làm vẻ thất vọng, rồi hỏi sân đá có gì.
“Có bệ thấp và một tấm bia.”
“Có kho báu không?”
“Có cỏ ở khe đá.”
“Cỏ ăn được không?”
“Ta chưa hỏi.”
Tối, Bảo ăn cơm, rau và canh. Tiền trong khăn không dùng tới hôm nay; chuyến này là việc khảo sát được ngoại viện sắp, hắn chưa nhận khoản công riêng. Trong phòng, chiếc nồi vẫn bọc vải. Hắn đặt bản nháp cạnh tờ chín vòng, không nối sân đá với vòng nào.
Trên trang đầu là nét chữ chưa đọc hết, bên cạnh một khoảng trắng.