Chương 164: Bữa Cơm Của Người Đợi
Khi Tạ Tiểu Bảo tới nhà ăn, chiếc ghế lung lay đã nằm úp trên bàn.
Một chân ghế được tháo ra, đặt bên cạnh bát đựng mấy chiếc chốt gỗ. Người thợ hôm qua ngồi dưới hiên, dùng dao gọt một chiếc chốt mới. Thấy Bảo cứ nhìn, ông lấy tay che miệng bát.
“Không ăn được.”
“Con nhìn cái ghế.”
“Cái ghế cũng không ăn được.”
Bảo nhận bát cháo, ngồi cách chiếc bàn một quãng. Người thợ kể mình vừa tới lấy nước nóng, tiện sửa ghế trước khi bếp đông. Bảo hỏi chân ghế gãy hay chỉ tuột; ông chỉ mộng gỗ bị mòn, nói phải thay chốt, lắp lại rồi thử. Ông chưa hứa sửa xong vào giờ nào.
“Con sẽ báo người coi kho,” Bảo nói.
“Báo ta đang làm. Đừng báo đã xong.”
“Vâng.”
Bảo ăn hết bát cháo, mua thêm bánh bằng tiền công và bẻ đôi. Hắn gói một nửa để dành cho buổi chiều. Người thợ nhìn giấy gói rồi đẩy chiếc ghế ra xa mép bàn.
“Ngươi đừng để bánh cạnh chốt gỗ.”
“Con biết cái nào ăn được.”
“Ta sợ ngươi nhầm.”
“Vậy người cứ giữ chốt.”
Người thợ bật cười. Bảo cất bánh vào túi áo, đem bát trả rồi tới khu nuôi. Ô Kê đứng cạnh máng, một chân giẫm lên thành máng. Hắn nhấc nó xuống, thay nước và kiểm chốt cửa. Con gà lại nhảy lên; lần này hắn đặt máng vào góc có tấm chắn, đợi nó uống xong mới đi.
Đến phòng Hứa Đồng, hắn báo người thợ đang sửa ghế. Hứa Đồng ghi lại rồi lấy tờ phiếu có dấu mực hôm trước ra. Ông đã gặp người viết; dấu ấy chỉ là vết bẩn, người nhận chưa ký. Người viết hẹn chiều sẽ gặp bên nhận để đối lại.
Bảo nhìn hai dòng chờ. “Vậy hôm nay còn hai việc.”
“Còn nhiều việc khác. Nhưng hai việc này ngươi biết.”
Người tiếp vận tới ngay sau đó, mang một lời nhắn từ điểm giao. Chiếc bảng nước đã dùng thêm mấy lượt; người trực muốn thêm một miếng che để giấy không bị bắn nước khi có người đặt bình. Hứa Đồng hỏi kho còn vật liệu nào nhẹ. Người tiếp vận nói có thể hỏi thợ dùng mảnh gỗ mỏng, nhưng chưa rõ ông có rảnh.
“Con vừa gặp thợ,” Bảo nói. “Ông đang sửa ghế ở nhà ăn.”
Người tiếp vận định đi ngay, Hứa Đồng ngăn lại: “Ông ấy đang cầm dao. Đợi làm xong đoạn ấy rồi hỏi.”
Ba người mang tờ lời nhắn ra hiên. Bảo ngồi trên bậc, không tự chạy vào lấy ghế. Chốc sau người thợ đem chiếc chốt mới đóng vào mộng, lắp chân và đặt ghế xuống. Ông ấn từng góc, đổi chiều rồi thử ngồi. Ghế không còn lắc trên nền hiên, nhưng ông muốn người nhận thử lại ở chỗ sử dụng.
Người coi kho tới, nhận ghế, hỏi cần trả gì cho phần sửa. Thợ nói đó là việc đã được kho giao, công sẽ đối với kho. Bảo ghi lời nhận vào tờ nháp theo đề nghị của Hứa Đồng; việc đã sửa và việc thử ở nơi dùng được ghi thành hai dòng.
“Ngươi kẻ thêm một dòng nữa,” người thợ nói.
“Việc gì ạ?”
“Ghế đem về đâu.”
Người coi kho nói ghế sẽ trở lại kho trước; sau đó mới giao theo nhu cầu. Bảo ghi đúng như ông nói, không tự thêm tên người dùng.
Người tiếp vận chờ hai người nói xong mới đưa lời nhắn về miếng che. Thợ hỏi kích thước bảng, nơi buộc và có cản việc lấy giấy hay không. Người tiếp vận có thể trả lời hai câu, còn khoảng trống trên vách thì chưa biết. Ông đồng ý mang lời hỏi tới điểm giao trước khi nhờ thợ làm.
Bảo lấy nửa cái bánh ra. Hắn đã định để dành tới chiều, nhưng thấy người thợ thu dao và cất chốt, bèn hỏi ông ăn sáng chưa. Ông giơ chiếc bánh của mình đang để trên bệ cửa. Bảo yên tâm cất nửa bánh lại.
Hổ tới vào lúc ấy. Hắn tìm Bảo từ nhà ăn, áo dính một vệt bụi ở vai. Hôm nay hắn nhận được lịch luyện tạm thời, có giờ nghỉ để ăn. Chưa có kết quả vào nội môn, nhưng hắn biết phải tới đâu và hỏi ai nếu muốn đổi giờ.
“Ta đã hỏi chuyện cơm,” Hổ nói.
“Có cho ăn không?”
“Có giờ nghỉ để ăn.”
“Hai chuyện khác nhau.”
“Ta biết. Phần ăn vẫn theo chỗ ở hiện nay, không có suất thêm trong giấy.”
Bảo gật đầu. “Vậy ngươi phải ăn đủ trước khi đi.”
“Ngươi nói như thể ngươi định ăn giúp ta.”
“Nếu ngươi bận, ta có thể giữ hộ.”
Hổ kéo túi áo lại gần mình. Hai người tới nhà ăn, thấy một phụ nữ đứng ngoài cửa bếp, cạnh chân là một bó vải. Bà hỏi người múc cơm liệu phần của người trực sân đã được lấy chưa. Người múc tìm trong danh sách rồi nói có người báo lấy sau, nhưng chưa xác nhận giờ.
“Chồng ta thay người ấy tới nhận. Ta mang lời tới trước, ông còn đang dọn đồ.”
Người múc không biết việc đổi người, bèn nhờ bà đợi trong khi mình hỏi người phụ trách. Bà ngồi xuống bậc, ôm bó vải; trời nắng, bát cơm trên khay đã được đậy. Bảo cùng Hổ nhận phần của mình, mang ra ngồi gần đó.
Một lúc sau, người phụ trách bếp ra hỏi tên người nhận mới. Bà nói tên chồng, nơi ông đang dọn đồ, và giải thích người trực ban đầu bị giữ lại. Người phụ trách nhờ người trong bếp kiểm với người trực sân, rồi mời bà uống nước. Bà nhận bát nước, nhưng cứ nhìn ra phía cổng.
“Bà ăn chưa?” Bảo hỏi.
“Ta ăn ở nhà rồi.”
Hắn không hỏi nữa. Hổ đưa cho Bảo ít rau trong đĩa của mình; Bảo hỏi bạn đã ăn đủ chưa. Hổ nói đã lấy phần mình muốn, còn rau này hắn tự chia. Bảo nhận và ăn hết.
Người được nhờ trở lại, xác nhận chồng bà có thể nhận phần cơm thay. Nhưng khi chồng bà tới, người phụ trách bếp vẫn đưa khay để ông tự kiểm; ngoài cơm còn một bát canh, cần mang theo cả giá đỡ khỏi đổ. Ông ấy nhận, ký tên vào dòng giao thay rồi đi.
Bà đứng dậy theo, nhấc bó vải. Bảo hỏi trong đó có phải giấy không. Bà lắc đầu: là tấm áo đem vá, lát nữa bà đưa tới thợ may. Hắn thấy mình đã nghĩ tới giấy quá nhanh, đành cúi xuống nhặt đôi đũa vừa rơi của mình.
“Ngươi định ghi cả áo của bà ấy?” Hổ hỏi.
“Nếu bà trả công.”
“Nếu áo biết chạy mất?”
“Vậy công phải tăng.”
Chiều, Bảo trở lại phòng Hứa Đồng. Người viết phiếu đã gặp người nhận, nhưng hai người không thống nhất thời điểm giao; họ hẹn kiểm lại quyển sổ ở nơi nhận. Hứa Đồng ghi rõ điều ấy, không ép họ ký cho xong. Bảo hỏi có thể để hai người tự hẹn rồi báo lại không; ông đáp được, nhưng cần biết ai nhận trách nhiệm báo.
Bảo nhớ người phụ nữ chờ ngoài cửa bếp. Có người ở đúng chỗ không có nghĩa họ phải đợi mãi mà không biết ai đang hỏi. Hắn đề nghị ghi giờ hẹn dự kiến và nơi liên lạc của người sẽ báo. Hứa Đồng đồng ý, tự xác nhận với người viết rồi đưa Bảo kẻ thêm một ô nhỏ ở cuối dòng.
“Ô này cho ai?” ông hỏi.
“Người sẽ báo kết quả. Không phải người quyết kết quả.”
“Có thể là cùng một người.”
“Vậy ghi một tên, đừng bắt họ viết hai lần.”
Hứa Đồng nhìn hắn rồi kéo tờ giấy lại gần hơn. Ông thử điền một dòng, thấy ô mới đủ chỗ, bèn giữ lại. Ông nhắc Bảo rằng đó là mẫu cho việc trong phòng, không tự đem sửa bảng của điểm giao. Bảo đáp hắn hiểu; chỗ kia có người trực riêng và đã dùng mẫu của họ.
Cuối buổi, người coi kho báo ghế đã được thử thêm trên nền kho, không còn lung lay. Ông ký nhận việc sửa; Hứa Đồng ghi kết quả vào dòng chờ. Bảo đặt bút xuống, nhìn khoảng giấy bên cạnh. Vẫn còn một dòng chưa xong, nhưng người viết phiếu đã biết phải báo cho ai.
“Ngày nào cũng có giấy mới,” hắn nói.
“Ngày nào cũng có người làm việc,” Hứa Đồng đáp.
“Người ngồi đợi có được tính không?”
Hứa Đồng hỏi hắn đang nói tới ai. Bảo kể chuyện người phụ nữ ở bếp và hai người ở phòng coi giấy hôm trước. Ông nghe, không trả lời ngay. Ông nhìn chồng phiếu rồi nói sẽ bàn với người phụ trách ngoại viện về cách nhận và chuyển những việc còn chờ; hiện tại chưa có chức hay mức công mới để hứa.
Bảo hỏi bao giờ được biết. Ông hẹn sau khi nói chuyện, sẽ báo cả khi chưa quyết được. Hắn gật, nhận xác nhận lượt hỗ trợ rồi về khu nuôi kiểm Ô Kê.
Tối, Bảo ăn cơm với rau và canh, thêm nửa chiếc bánh đã giữ từ sáng. Hắn đếm lại tiền sau khi mua bánh, buộc khăn và để riêng với giấy. Chiếc nồi vẫn nằm trong lớp vải ở phía trong bàn.
Trên tờ nháp, dòng về chiếc ghế đã có chữ *đã thử* và tên người nhận.