Chương 376: Hai Dòng Trong Sổ
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo để bát cháo nguội.
Hổ đặt bát xuống trước mặt hắn từ lúc hơi nước còn bốc. Bảo cầm thìa, nhìn chiếc sọt đựng nồi ở góc nhà, rồi quên ăn. Đến khi Ô Kê gõ máng ngoài hiên, hắn mới giật mình. Trên mặt cháo đã có một lớp mỏng.
“Cháu không đói?” Hổ hỏi.
“Đói.”
“Vậy sao không ăn?”
“Con đang nghĩ tới một lần no.”
Hổ ngồi xuống đối diện. “Nó có làm bát cháo hôm nay no thay cháu không?”
Bảo lắc đầu. Hắn khuấy cháo cho lớp mặt tan ra, ăn từng thìa. Cháo nguội không ngon bằng lúc nóng, nhưng vẫn là cháo cá. Hắn ăn hết, rồi xin thêm nửa bát. Khi Hổ đứng dậy, hắn nói cảm ơn trước, vì sợ lát nữa lại quên mình đã nói hay chưa.
Bà Mạnh đã nghe Dư An đọc ba dòng Bảo viết tối qua. Ngón tay bà dừng ở dòng cuối: *Chưa biết sau đó thế nào; chưa biết dùng phần ấy cho cửa được không.* Bảo thấy bà muốn nói, bèn kéo ghế lại gần.
“Bà biết phần ấy có thể dùng cho cửa không?”
Bà nhìn hắn, nói: “Có.”
Hắn đợi. Một tiếng ấy làm câu hỏi trong đầu hắn lớn hơn: dùng thế nào, cửa cần bao nhiêu, nếu cho cửa thì phần của hắn còn không? Hắn lấy giấy viết hai dòng, một bên *con ăn*, bên kia *dùng cho cửa*, rồi đặt bút xuống.
Bà nhìn hai dòng, chỉ vào chiếc sọt. Hổ và Bảo mở vải, đặt nồi trên bàn như hôm qua. Nắp để cạnh, không đậy. Ô Kê được đưa tới hiên, có nước và thóc; bà đã dặn nó ở gần khi tìm cách đong.
“Có phải hai việc đều cần phần trong nồi?” Thanh Nghi hỏi.
Bà Mạnh gật. Bảo nhìn hai dòng chữ. Hắn xé một mẩu giấy nhỏ, đặt dưới dòng *con ăn*, rồi lấy mẩu thứ hai đặt dưới dòng *dùng cho cửa*.
“Nếu có hai phần, con có thể chia mỗi bên một phần?”
Bà lắc đầu. Bà đưa tay tới mẩu giấy thứ nhất, chậm chạp đẩy nó sang cạnh mẩu thứ hai. Hai mẩu giấy chạm nhau. Sau đó bà nói: “Một.”
Bảo nhìn chúng. “Chỉ có một phần?”
Bà gật.
Hắn nhấc một mẩu giấy ra. Mẩu còn lại nằm giữa hai dòng chữ, không thuộc hẳn dòng nào. Hắn muốn hỏi có thể chia đôi hay không, nhưng Dư An nhắc bà cần nghỉ sau bữa sáng. Hắn không bỏ giấy đi; hắn đặt một viên sỏi sạch lên góc để gió khỏi thổi bay.
Đến giờ nghe ở giếng, Hổ và Bảo mang Ô Kê tới sân. Thanh Nghi cùng ông Cẩn xuống phòng trực, Tín nhận giấy chuyển qua người chạy tin. Hôm qua hai nơi không nghe tiếng đáp, hôm nay con gà uống nước rồi gõ hai tiếng. Một âm trầm vang lên từ phía giếng, rất nhẹ. Bảo và Hổ nghe thấy; giấy từ phòng trực ghi Thanh Nghi nghe, Cẩn chỉ nghe chắc hai tiếng gõ.
“Lại có rồi,” Bảo nói.
“Ở đây ta nghe thấy,” Hổ đáp. “Bà đã nói gió lúc có lúc thiếu.”
Hắn ghi lại, không gạch dòng thiếu hôm qua. Ông Thuận kể người nhà đã mang thức ăn tới cho bác giữ dây và giúp bác ăn. Bác đang ngồi trên ghế, bàn tay đặt cạnh chiếc thùng. Bảo chào bác, đưa thêm chén nước mới, rồi cùng Hổ thu phên khi lượt nghe kết thúc.
Hắn định về ngay, nhưng thấy một người đàn bà đứng ở đầu sân với giỏ rau. Hôm trước nàng đã đi qua giếng, bó rau nghiêng gần rơi. Hôm nay nàng vẫn di chuyển chậm; một chiếc quai giỏ bị sờn. Bảo hỏi có muốn hắn giúp buộc lại không. Nàng nhìn quai, rồi nhìn sợi dây hắn đưa ra. Sau một lúc, nàng chậm chạp giơ giỏ về phía hắn.
Bảo ngồi xuống, luồn dây quanh quai. Hắn thắt một nút quá chặt, miệng giỏ bị kéo lệch. Hổ chỉ hắn buộc vào hai nan bên dưới, không kéo quai gập lại. Làm xong, Bảo đặt giỏ vào tay người đàn bà, chờ nàng nắm chắc mới buông. Bó rau vẫn còn nguyên.
“Bà mang về nhà hay tới chợ?” hắn hỏi.
Nàng chưa đáp. Hổ chỉ vào hai phía đường, nói chậm từng tên. Người đàn bà nhìn về phía chợ. Họ không tự mang giỏ đi; Hổ bảo sẽ đi cùng một đoạn. Bảo dẫn Xám và lồng Ô Kê theo sau, vừa đi vừa nghĩ về một phần trong nồi. Nếu cửa cần nó, có thể nó giúp những người như bà đi hết quãng đường mà không phải mất cả buổi.
Đó chỉ là điều hắn hy vọng. Hắn chưa biết cửa cần phần của mình làm gì, hay dùng xong dân làng sẽ ra sao. Hắn hỏi Hổ. Anh nói nên hỏi bà Mạnh khi bà đủ sức, đồng thời đọc tiếp sổ ca; không phải việc nào từng ghi trong sổ cũng còn đúng nguyên vẹn với tình trạng hiện nay.
Đưa người đàn bà tới chỗ nàng chỉ, họ trở về nhà. Thanh Nghi và Cẩn đã mang bản ghi tiếng đáp tới trước. Bà Mạnh nghe xong, đặt tay lên hàng hôm nay. Bảo kể chuyện cái quai giỏ được buộc lại, rồi chỉ mẩu giấy giữa hai dòng.
“Nếu con chia phần trong nồi làm đôi, một nửa cho cửa, một nửa con ăn, được không ạ?”
Bà Mạnh không đáp ngay. Bà đưa một ngón tay lên, rồi khẽ lắc đầu.
“Một phần phải dùng trọn?” Thanh Nghi hỏi.
Bà nói: “Đong... đủ.”
Dư An đưa bà nước. Bảo hiểu bà chưa xác nhận phải dùng trọn; bà chỉ bảo đong cho đủ. Hắn lấy bút viết câu hỏi vào giấy, bên dưới là lời bà. Hắn muốn có một câu trả lời dễ hơn, nhưng không viết thêm chữ *không thể chia* khi bà chưa nói thế.
Bà chỉ vào nồi rồi vào tờ giấy ghi tiếng đáp. Một lúc sau, bà nói: “Cửa... thiếu.”
“Cửa chín cần một phần để khởi động lại?” hắn hỏi.
Bà nhìn hắn, gật rất chậm. Không ai lên tiếng trong một lúc. Hắn đã biết dân làng đang gánh phần việc của cửa; giờ bà nói cửa cần một phần. Phần của hắn ở trong nồi có thể dùng cho cửa, nhưng bà vẫn chưa nói giá sau khi dùng.
“Phần của con đủ không?” hắn hỏi.
Bà nhìn lòng nồi, rồi nói: “Phải... đo.”
Bảo gục đầu lên cánh tay. “Con đo đáy rồi. Con không biết làm sao đo phần.”
Thanh Nghi ngồi xuống cạnh hắn. Nàng nhắc quyển sổ cũ ghi nồi còn thì Ô Kê còn tìm; bà Mạnh muốn con gà ở gần khi đong. Có thể những lời ấy chỉ cách bắt đầu, nhưng cả nhóm chưa có hướng dẫn đầy đủ. Họ có thể xem lại những ghi chép từng thu được trên đường và bản chép trong phòng trực.
Bảo ngẩng lên. Trong túi hắn còn vài tờ tự ghi, còn nhiều giấy gốc đã để ở ngoại viện. Lá thư gửi Mộc mới được xác nhận tới trạm, chưa có tin tới tay ông. Hắn không thể chờ một lời đáp chưa biết bao giờ đến mà ngừng nghe ở giếng; cũng không muốn thử chia phần chỉ bằng suy đoán.
Hắn lấy những tờ mình còn giữ, trải theo thứ tự lên bàn khác. Có ghi số đo, danh sách đồ và vài dòng về những lần dùng nồi. Thanh Nghi giúp hắn tách giấy viết về nồi khỏi giấy ghi đường đi. Hổ giữ Ô Kê ở hiên, còn Dư An chăm bà Mạnh.
Một mẩu giấy Bảo từng ghi trên đường có câu nhắc lời Mộc: *Đo đáy trước, hỏi phần ấy của ai.* Hắn nhớ người thầy đã dặn mình không chỉ nhìn thức ăn, mà còn phải biết ai được nhận. Bên dưới câu ấy là một khoảng trắng do hắn để lại, trước đây chưa biết điền gì.
“Phần này là của con,” hắn nói. “Bà đã xác nhận.”
“Đúng,” Thanh Nghi đáp. “Còn muốn biết nó đủ cho cửa không, ta phải biết cách đo. Con chưa chọn dùng nó.”
Hắn gật. Hắn viết thêm *của Bảo*, ghi nguồn là lời bà Mạnh hôm qua, không sửa mẩu giấy cũ của Mộc. Rồi hắn vẽ hai cột: *ăn để no* và *dùng cho cửa*. Giữa hai cột hắn đặt mẩu giấy duy nhất, như bà vừa chỉ.
Buổi chiều, bà Mạnh tỉnh thêm một lúc. Hắn đưa hai cột cho bà xem, hỏi nếu phần ấy dùng cho cửa thì hắn còn được no lần ấy không. Bà nhìn mẩu giấy, rồi nhìn hắn. Mất một quãng lâu, bà lắc đầu.
Bảo không viết ngay. Hắn muốn chắc mình đã nghe đúng, nên đọc lại câu hỏi. Bà chạm vào mẩu giấy rồi vào cột *dùng cho cửa*, sau đó chỉ sang cột *ăn để no* và lắc đầu một lần nữa.
Hắn đặt bút xuống. Không khí trong nhà không đổi; cháo vẫn thơm từ bếp, Ô Kê vẫn gõ nhẹ vào máng. Nhưng lần đầu hai lựa chọn có cái giá rõ ràng: nếu dùng phần ấy cho cửa, hắn sẽ không còn lần no mà bà vừa nói.
“Sau này có phần khác không ạ?” hắn hỏi.
Bà nhắm mắt. Dư An đỡ bà uống nước, để bà nghỉ. Câu hỏi ấy chưa được trả lời. Bảo nhìn cột *ăn để no* rất lâu. Hắn không gạch nó đi, cũng không đẩy mẩu giấy sang cột kia. Hắn mới mười ba tuổi, đã đói lâu đến mức tưởng cơn đói là một bộ phận của mình; ý nghĩ được no một lần khiến hắn sợ và muốn cùng lúc.
Tối đó Hổ hâm cơm, đưa hắn một bát lớn. Hắn ăn hết, rồi ngồi lại thay vì xin thêm ngay. Chiếc ghế trống bên bàn vẫn để cho người chưa tới. Bà Mạnh ăn phần của bà, Dư An kể chuyện bác giữ dây có người nhà thăm. Không ai yêu cầu Bảo quyết định.
Sau bữa ăn, hắn nói với Ô Kê: “Nếu ta dùng phần ấy cho cửa, ta sẽ mất lần no. Ta vẫn chưa biết có phần khác hay không.”
Con gà đặt mỏ vào nan lồng. Hắn đưa tay tới, để nó chạm nhẹ. Hắn nhớ Ô Kê đã ăn phần của người sau khi đói; nếu người ấy tới, con gà vẫn phải đối diện chuyện đã làm. Còn hắn có quyền quyết phần của mình, nhưng trước hết cần biết phần ấy có đủ cho cửa không.
Hắn đặt tờ hai cột lên cao, tránh tay áo chạm vào. Ở giữa hai cột là một mẩu giấy nhỏ. Hắn chưa chuyển nó sang bên nào. Hôm nay bà đã giúp hắn nhìn rõ một điều sẽ mất; ngày mai hắn sẽ tìm cách đo điều mình có.