Chương 369: Thước Đo Của Người Thợ Rèn
Chiếc nắp nồi không khít.
Tạ Tiểu Bảo đã biết chuyện ấy từ lâu. Trên đường đi, hắn từng xoay nắp hết một vòng, thử đặt nghiêng, thử chèn một mảnh vải vào quai. Cuối cùng cái nắp vẫn để hở một khe nhỏ. Hôm nay hắn nhìn khe ấy lâu hơn mọi lần, bởi bà Mạnh vừa dặn: đong trước.
Hắn chưa mở sọt. Đêm qua, trước khi ngủ, hắn đã hỏi lại bà có muốn xem nồi ở nhà không. Bà chưa trả lời, Dư An bảo để bà nghỉ. Sáng nay bà còn ngủ; Bảo không muốn tự giải thích hai chữ *đong trước* thành một việc bà chưa dặn.
Hắn lấy chiếc nồi bếp của bà ra trước, đong nước bằng một chiếc bát. Bát thứ nhất đổ vào nồi, bát thứ hai cũng vậy. Đến bát thứ ba, hắn mải nhìn vạch nước nên rót quá tay; nước tràn xuống bếp.
Hổ nghe tiếng, đưa khăn tới. “Cháu đang nấu gì?”
“Con thử xem trong nồi có bao nhiêu.”
“Vậy phải đong cả nước trên bếp.”
Bảo nhìn vũng nước loang. Hắn lau sạch rồi đổ nước trong nồi trở lại một cái chậu, thử lại từ đầu. Lần này hắn dừng ở mép bát, đổ từ từ. Hổ đứng bên giữ nồi để nó khỏi xoay.
“Cái nồi đen có giống cái này không?” anh hỏi.
“Không giống.” Bảo nghĩ một lúc. “Con đã thấy nó chia phần, nhưng không phải lúc nào con cũng biết trong đó còn gì. Mộc tiên sinh bảo đo đáy trước. Con cứ nghĩ nhìn đáy là đủ.”
Hổ không giục hắn kể thêm. Anh lấy một chiếc muôi gỗ, đặt cạnh bếp. “Ăn sáng trước. Nếu sau đó bà muốn xem nồi, ta cùng nghĩ cách.”
Bà Mạnh thức khi cháo đã chín. Dư An giúp bà ngồi dậy, còn Thanh Nghi trải bản chép hôm qua trên bàn. Bảo kể mình đã thử đong nước bằng nồi bếp, cả chuyện làm tràn. Bà nhìn chiếc bát, rồi nhìn về sọt đựng nồi đen.
“Bà muốn con lấy nồi ra ở đây?” hắn hỏi.
Bà gật. Dư An kéo chiếc bàn nhỏ ra giữa nhà, dọn những tờ giấy sang bên. Hổ kiểm mặt bàn chắc rồi giúp Bảo nhấc nồi khỏi sọt. Tấm vải bọc mở ra, để lộ thân nồi đen và chiếc nắp cũ. Bảo đặt nắp cạnh nồi, không kê lên miệng.
Bà Mạnh nhìn nó. Mất một lúc bà mới đưa tay tới, chạm vào quai. Ngón tay bà dừng ở chỗ mòn nhẵn, nơi Bảo vẫn cầm mỗi khi nấu. Hắn không biết bà nhớ được bao nhiêu, chỉ thấy tay bà ở đó lâu hơn khi nhìn bản vẽ.
“Con mang nó về rồi,” hắn nói.
Bà chớp mắt. Dư An kê gối để bà không phải với. Bảo xoay nồi cho quai nằm gần hơn, rồi hỏi bà muốn đong thứ gì. Bà đưa tay về phía lòng nồi, nhưng không chạm đáy. Thanh Nghi đặt giấy và bút trong tầm tay bà. Bà không cầm được bút, chỉ nói rất khẽ: “Đáy.”
Bảo nhìn vào. Đáy nồi đen, không có cơm, nước hay vật gì nhìn thấy. Hắn từng rửa nó trên đường; những vết cũ vẫn còn, không tạo thành vạch chia rõ ràng. Hắn lấy thước gỗ áp cạnh miệng, định đặt xuống lòng nồi.
“Khoan,” Dư An nói. “Con muốn đo chiều sâu, hay muốn biết phần bên trong?”
Bảo dừng tay. “Con không biết hai cái khác nhau thế nào.”
“Ta cũng chưa biết với cái nồi này. Nhưng một chiếc thước có thể cho con chiều sâu nhìn thấy. Nó không nhất thiết nói được mọi thứ con muốn biết.”
Bà Mạnh nhìn chiếc thước. Bảo hỏi có thể đo chiều sâu trước không. Bà không đáp, nhưng khi hắn nói sẽ chỉ đặt thước nhẹ vào lòng nồi, không đổ gì vào, bà khẽ gật. Hắn làm theo. Đầu thước chạm đáy, số đo cho thấy chiều sâu vừa bằng khoảng tay hắn ước từ bên ngoài. Hắn ghi con số, kèm chữ *đo bằng thước gỗ, lòng nồi rỗng nhìn thấy*.
“Con đo được rồi,” hắn nói, nhưng không thấy nhẹ hơn.
Dư An nhìn kết quả. “Giờ con biết chiều sâu. Câu hỏi về phần vẫn còn.”
Có tiếng gõ ngoài cổng. Ông Cẩn mang tới một thanh tre mỏng, nói Tín đã chuẩn bị dụng cụ nghe như lịch. Ông thấy cái nồi trên bàn, nghe Bảo kể chuyện chiếc nắp không khít, bèn xem qua mép nồi. Ông không thử bẻ hay mài, chỉ xoay nắp một lượt và chỉ nơi mép vênh.
“Chỗ này có thể do nắp, cũng có thể do miệng nồi. Nếu muốn biết, phải nhờ người quen đồ sắt xem.”
Bảo nhớ Hàn Luyện, người thợ rèn trong làng. Hắn chưa biết hôm nay ông có thể nói hay cầm dụng cụ không. Cẩn bảo sẽ đi hỏi, đồng thời báo lịch nghe cho Tín. Thanh Nghi đi cùng ông tới từ đường; hôm nay nàng và Cẩn sẽ ở phòng trực. Bảo hẹn sau lượt nghe sẽ sang lò rèn cùng Hổ.
Ô Kê được đưa tới giếng. Người chuyển tin đã nhận việc tới giữa buổi. Bảo ghi tên ông vào lịch, đưa thóc và nước cho con gà. Nó uống xong, gõ hai tiếng cạnh chân ghế. Có tiếng đáp ở giếng; tờ giấy gửi từ phòng trực cũng ghi nghe được âm trầm. Hắn hoàn tất hàng ghi, cảm ơn người chuyển tin và báo giờ kết thúc.
Ông Thuận nói hôm qua bác giữ dây đã chỉ về ngõ phía đông khi nhìn chiếc thùng. Ông đưa thùng tới đầu ngõ, người nhà cửa xanh nhận giúp; sáng nay bác lại đứng cạnh giếng. Bảo nghe rồi chào bác, hỏi chiếc ghế có cần kê gần hơn không. Bác chưa đáp, hắn để ghế nguyên chỗ.
Tín đến báo Hàn Luyện muốn gặp. Hắn dẫn Hổ và Bảo qua lò rèn, không mang nồi theo: bà Mạnh đã dặn không lấy nồi đi, và họ chưa hỏi bà về việc đưa nó tới lò. Lồng Ô Kê được đặt dưới mái nhà đối diện giếng; ông Thuận nhận trông trong lúc họ đi.
Lò rèn nguội. Một chiếc búa nằm trên đe, bàn tay Hàn Luyện đặt gần cán. Ánh sáng lọt qua khe cửa, rơi lên những chiếc kìm treo ở vách. Người thợ nhìn Bảo khi hắn bước vào. Hắn chào ông, nói đã về làng và đang ở nhà bà Mạnh.
“Con muốn hỏi cách đo một cái nắp không khít. Hôm nay con không mang nồi tới.”
Hàn Luyện nhìn Tín. Cậu đặt một miếng sắt tròn lên bàn, bên cạnh là chiếc thước thẳng. Người thợ mất một lúc mới nâng được tay. Ông đặt thước lên mặt miếng sắt. Một đầu thước chạm, đầu kia có khe nhỏ.
“Vênh?” Bảo hỏi.
Ông gật. Tín đưa cho Bảo một dải giấy; hắn luồn vào dưới đầu thước, thấy giấy đi qua. Hàn Luyện chỉ sang phía khác của miếng sắt. Hắn xoay thước, khe đổi chỗ. Cẩn giải thích đó là một cách xem mặt nào cao thấp, nhưng còn phải biết thước có thẳng và mặt đỡ có bằng không.
Bảo lấy một mảnh giấy khác, thử ở một mặt gỗ. Lần đầu giấy kẹt, lần thứ hai lại lọt vì hắn giữ thước nghiêng. Hắn đỏ mặt, đặt hai tay xuống bàn cho khỏi run. Hàn Luyện nhìn, chậm chạp đưa ngón tay chỉ đầu thước. Tín giúp Bảo đặt lại nhẹ hơn.
“Không ấn mạnh,” Cẩn nói. “Ấn xuống thì thước cũng có thể cong theo.”
Họ thử ba hướng, ghi lại hướng giấy lọt. Hàn Luyện dừng ở đó, nhìn Bảo. Hắn hỏi có phải ông muốn nói phải đo trước khi sửa nắp không. Ông gật, rồi chạm vào miếng sắt, sau đó lắc đầu và chỉ lên chiếc búa.
“Không đập ngay,” Tín nói.
Ông gật thêm lần nữa. Bảo nhớ trước đây hắn từng muốn gõ cái nắp cho khít. Hắn cũng nhớ cái nắp ấy đã đi cùng nồi qua nhiều bếp, khe hở có thể có từ lâu. Biết nó vênh ở đâu sẽ giúp hắn mô tả, nhưng chưa cho phép hắn quyết định phải sửa.
Hàn Luyện chỉ vào ngón tay Bảo, rồi vào thanh thước. Hắn đưa thước lại. Ông nắm bằng cả bàn tay, từng chút vạch lên giấy một hình tròn, thêm hai nét song song ở một đoạn mép. Ông đặt bút xuống, thở nặng. Tín lấy nước, còn Cẩn cầm tờ giấy.
“Ông muốn cháu vẽ vị trí khe nắp?” Bảo hỏi.
Người thợ gật. Ông chỉ thêm vào bên ngoài hình tròn, nói được một tiếng: “Gió.”
Bảo nhìn Cẩn. Trong phòng trực họ đang nghe đường gió; cái nắp nồi cũng có một khe hở. Nhưng ông Hàn Luyện chưa nói hai thứ nối với nhau. Hắn ghi lại đúng câu hỏi và tiếng ông vừa nói, hứa khi về sẽ kể bà Mạnh trước khi dùng thước với nồi đen.
Ông Cẩn đưa họ trở lại giếng. Ô Kê đã uống nước và đứng yên trong lồng. Ông Thuận nói nó gõ vào máng vài lần nhưng không ra ngoài; ông đã thêm nước. Bảo cảm ơn, bế lồng lên lưng Xám rồi đi về nhà.
Bà Mạnh đang nghỉ. Dư An nói sau khi mọi người đi, bà đã nhìn chiếc nồi khá lâu, rồi chạm vào quai một lần nữa. Ông không di chuyển nó; nắp vẫn đặt cạnh thân trên bàn. Bảo kể chuyện Hàn Luyện dùng thước và giấy, đưa bản vẽ hai nét trên vòng tròn cho bà xem.
Khi nghe hắn nói đến chiếc búa, bà chậm chạp lắc đầu.
“Con không đập,” hắn nói ngay. “Ông ấy cũng bảo đừng đập ngay.”
Bà nhìn cái nắp, rồi nhìn tờ giấy. Thanh Nghi đọc bản ghi: thước thẳng để kiểm khe, phải xem cả mặt đỡ, chưa sửa. Bà Mạnh đưa tay lên, chỉ vào một bên miệng nồi. Hổ đặt nắp lên theo hướng bà nhìn, nhẹ nhàng đến khi nó tự nằm yên. Khe hở hiện ra ở phía gần cửa.
Bảo định luồn giấy, nhưng bà nói: “Đừng... bịt.”
Hắn rút tay lại. “Khe ấy để gió đi qua ạ?”
Bà chưa đáp. Nàng ghi nguyên lời bà, vẽ vị trí khe theo hướng nắp đang đặt. Ông Cẩn hứa hôm khác sẽ hỏi Hàn Luyện thêm; ông không muốn thay người thợ trả lời. Hổ nhấc nắp ra, đặt lại cạnh nồi.
Bảo nhìn cả hai. Hắn không có ngay một số đo cho phần trong nồi, nhưng hôm nay đã phân biệt được chiều sâu với thứ mình muốn chia. Hắn cũng học thêm cách nhìn cái nắp mà không vội lấy búa. Điều đó chưa đủ để trả một phần ăn, càng chưa làm bà Mạnh hết ca, nhưng là một việc hắn có thể ghi đúng.
Tối đến, hắn cùng Hổ bọc lại nồi và nắp, đặt trong sọt ở chỗ cũ. Ô Kê có máng nước mới. Bảo ăn cơm, rồi ngồi bên bàn viết: *Đáy nhìn thấy đã đo. Khe nắp: bà dặn đừng bịt. Chưa biết cách đong phần.*
Hắn đọc lại cho bà nghe. Bà đưa tay chạm mép tờ giấy, giữ ở đó khi hắn gấp bản ghi. Hắn để bà cầm góc giấy một lúc, không vội rút về.