Chương 290: Dòng Chữ Trong Sổ Cũ
Buổi chiều, bà quản kho trở lại với một chiếc hộp gỗ đựng giấy niêm.
Tạ Tiểu Bảo tưởng bà mang chìa khóa khác. Nhìn kỹ, hắn thấy trong hộp chỉ có giấy mỏng, dây gai và một thỏi mực đã mòn. Bà đặt hộp xuống bàn rồi hỏi ông Phùng liệu có cách nào liên lạc với chủ hàng sớm hơn thư thường.
“Có một chuyến ngựa về hướng ấy tối nay,” ông Phùng nói. “Ta có thể gửi lời. Nhưng ta không biết ngựa tới trước hay sau chuyến thư của kho.”
Thanh Nghi đề nghị hai bên cùng ghi rõ câu hỏi để tránh gửi thiếu. Bà quản kho lấy giấy, hỏi từng người muốn biết điều gì. Ông Phùng viết tên người nhận rồi đẩy bút cho Thanh Nghi.
Nàng ghi: có thể mở hòm trước mặt người của kho, người đại diện và người yêu cầu đối chiếu hay không. Nếu trong bao có chiếc lệnh được nhắc tới, việc xem đặc điểm và giữ vật tạm thời sẽ làm thế nào. Nàng cũng hỏi có thể đối chiếu giấy nhận chiếc bao tại điểm tập kết hay không.
Ông Phùng đọc lại. “Ta muốn thêm một câu: những vật khác trong hòm vẫn được giữ kín, trừ phần cần kiểm để lấy chiếc bao.”
Thanh Nghi đồng ý. Bà quản kho viết tiếp: nếu mở, mọi người sẽ thống nhất cách làm trước, ghi lại tình trạng niêm và đồ được lấy ra. Bà chưa ký vào phần hứa mở; tờ này là câu hỏi gửi đi, không phải quyết định.
Bảo nhìn cái hộp gỗ. “Bà chuẩn bị giấy niêm từ bây giờ sao?”
“Để nếu cần, ta có thứ niêm lại ngay. Không có nghĩa ta đã được mở.” Bà đậy hộp, gài chốt. “Người giữ kho chuẩn bị dây cũng giống người đi đường mang áo mưa. Không phải muốn trời mưa.”
“Vậy mang bánh là muốn trời đói,” Bảo nói.
Ông Phùng nhìn túi lương bên hông hắn. “Cậu chuẩn bị chu đáo đấy.”
Bảo cúi nhìn: cái bánh Hổ đưa vừa rồi chỉ còn mẩu cuối. Hắn bẻ đôi, bỏ một nửa vào túi, nửa còn lại ăn ngay. Ô Kê đứng ngoài cửa, nghển cổ nhìn. Hắn mở cửa đặt mẩu bánh còn lại xuống bậc, rồi khép hờ để gà khỏi chạy vào phòng giấy.
Bà quản kho chép hai bản câu hỏi. Một bản để gửi, một bản lưu tại kho. Ông Phùng ký vào phần nhận gửi, Thanh Nghi ký cạnh lời yêu cầu của mình. Người giữ sổ ghi ngày, đọc lại số hòm rồi cất bản lưu. Ông Phùng tự mang lá thư tới người phụ trách chuyến ngựa, hẹn nếu chuyến ấy không đi được sẽ quay lại báo.
Bảo muốn theo, nhưng Thanh Nghi bảo hắn chờ ở sân. Nàng cần hỏi người giữ sổ một việc: liệu trước khi hòm tới trạm có giấy nào ghi chiếc bao được nhận riêng hay chỉ ghi hòm đã niêm.
Ông giữ sổ lấy quyển hàng, chỉ lại dòng đã cho họ xem. Ông nói trạm nhận một hòm có niêm; danh mục kèm theo có mục chiếc bao đen và số lệnh, nhưng ông không trực tiếp bỏ vật vào. Phần thông tin ấy do giấy kèm chuyến cung cấp. Ông có thể xác nhận trạm đã ghi gì khi nhận, không thể xác nhận vật thực sự nằm trong hòm từ lúc nào.
“Vậy trước kia ông nói trong hòm có bao là dựa vào giấy?” Bảo hỏi.
“Đúng. Ta phải nói rõ hơn: sổ ghi hòm có bao, ta chưa mở để nhìn.”
Bảo nghĩ đến lúc nghe tin lần đầu. Hắn đã tưởng người giữ sổ nhìn thấy chiếc bao bằng mắt mình. Ông không hề đưa nó ra cho họ xem; chỉ là hắn nghe được điều mong nhất rồi tự lấp phần còn lại. Hắn ghi lại lời giải thích vào sổ, thêm một dấu hỏi sau dòng “lệnh trong hòm”.
Thanh Nghi hỏi có thể xem bản giấy kèm chuyến. Ông giữ sổ nói bản lưu tại kho có nhiều mục hàng. Ông sẽ hỏi bà quản kho về phần có thể cho xem, và chỉ lấy đúng trang liên quan. Ông không hứa tìm thấy ngay, vì giấy chuyến được xếp theo ngày nhận, không theo số lệnh.
Bảo thấy ông xách chồng sổ đi vào phòng nhỏ, bèn hỏi mình có thể phụ không. Ông bảo không cần người tìm trong giấy, nhưng nhờ hắn giữ cửa lúc mang hộp ra. Hắn đứng chặn cửa, thấy ông và một người phụ kho bê chiếc hộp nặng đặt lên bàn. Trên nắp có hai dải giấy ghi khoảng ngày. Người giữ sổ rửa tay, lau khô rồi mới tháo dây.
Trong hộp có từng xấp giấy bọc riêng. Ông so ngày trên mục nhận với nhãn ngoài, chọn một xấp. Bảo đứng bên cửa nhìn, không đưa tay vào. Hắn tưởng chỉ có mấy tờ, hóa ra một chuyến đi qua nhiều điểm, mỗi nơi để lại giấy khác nhau. Ông mở đến tờ thứ ba thì dừng, gọi bà quản kho.
Bà xem, đồng ý cho Thanh Nghi nhìn phần liên quan. Trên giấy là số hòm, tên điểm giao và một danh mục ngắn. Mục chiếc bao đen có số mười bảy, bên cạnh là hai chữ “theo kê”. Phía dưới có dấu của điểm tập kết và chữ ký người nhận chuyến.
“‘Theo kê’ nghĩa là sao?” Bảo hỏi.
Người giữ sổ giải thích người ghi giấy chuyến chép theo danh mục bên giao cung cấp; dòng này không nói người vận chuyển đã mở bao. Ông chỉ một ô khác trên giấy: ở đó có xác nhận nhận hòm nguyên niêm. Thanh Nghi đối số giấy với bản chép, hai số trùng nhau.
Nàng không chạm vào tờ cũ. “Có thể chép đúng hai chữ ấy cho ta không?”
Bà quản kho cho phép. Người giữ sổ sao phần số hòm, điểm giao, số giấy và nguyên dòng liên quan, ghi rõ bản chép từ giấy lưu của chuyến. Ông đọc lại cả cụm “theo kê”, không bỏ đi. Thanh Nghi nhận bản chép, cảm ơn, rồi hỏi giấy kê ban đầu có ở hộp này không.
Ông tìm thêm trong xấp nhưng không thấy. “Ta không biết nó có từng được gửi theo chuyến hay được giữ ở điểm giao. Bản lưu của trạm chỉ có đến đây.”
Đó chưa phải câu trả lời Bảo mong. Dẫu vậy, giờ hắn biết vì sao sổ tại kho có thể ghi số mười bảy dù người giữ kho chưa nhìn thấy lệnh. Hắn cũng biết mình cần hỏi tờ kê nào, ở đâu, thay vì chỉ hỏi ai đã mang chiếc hòm tới.
Hổ mang nước nóng đến, đặt bốn cái bát trên bàn ngoài hiên. Dư An ngồi cạnh Xám, đang kiểm lại nút buộc túi thuốc. Bảo ra uống, kể cho hai người nghe những gì vừa xem. Hổ hỏi bao giờ có thể gặp chủ hàng; Thanh Nghi nói còn tùy chuyến ngựa và câu trả lời.
Dư An hỏi: “Nếu giấy ở ngoại viện tìm được trước, ai mang tới?”
“Ta đã nhờ người nhận báo loại giấy và nơi giữ trước. Ta không dặn đưa bản gốc cho một người chưa được thống nhất.” Thanh Nghi nhìn về bàn thư. “Khi có hồi âm, ta sẽ tính đường nhận cho chắc.”
Chưa lâu sau, ông Phùng trở về. Chuyến ngựa đồng ý mang thư; người phụ trách đã ghi nhận phong thư vào sổ và dự tính đi lúc trời còn sáng. Ông Phùng đưa Thanh Nghi xem mảnh nhận thư có ngày và nơi giao. Nàng đọc rồi trả lại, không giữ thay ông.
“Ta cũng nhắn hỏi điểm tập kết về giấy kê,” ông nói. “Ta không phải người giữ sổ ở đó. Có gì ta sẽ báo lại.”
Bảo hỏi ông làm việc cho chủ hàng lâu chưa. Ông Phùng ngẫm một lát rồi đáp mình nhận việc theo chuyến, có lần chở hàng, có lần đến nhận tiền hoặc giấy. Chuyến có chiếc hòm này ông chỉ nhận nhiệm vụ mang về. Ông không biết người lấy chiếc bao ở kho giấy và chưa từng thấy chiếc móc Bảo kể.
“Ông đã nghe chuyện chiếc bao bị lấy trước hôm nay chưa?” Thanh Nghi hỏi.
“Chưa. Ta nghe bà quản kho nói có người nhận là đồ bị mất, nên đến chờ gặp. Nếu chủ hàng của ta có giấy mua hay giấy nhận riêng, phải hỏi họ.”
Ông không tỏ vẻ giận khi bị hỏi. Nhưng lúc cất mảnh nhận thư, bàn tay ông dừng lại một thoáng trên túi áo. Ông nói nếu hòm bị giữ quá lâu, chuyến hàng khác của mình cũng chậm; tiền thuê người chờ không phải chủ hàng nào cũng trả. Bảo muốn nói chiếc lệnh còn quan trọng hơn tiền chờ, nhưng thấy Thanh Nghi đưa ông một bát nước, hắn im lặng.
“Ta không muốn ông chờ vô ích,” nàng nói. “Nếu bên ông có giấy, xin mang tới. Bên ta cũng đang tìm. Đến hạn giữ hòm mà chưa đủ điều đối, chúng ta phải bàn tiếp với bà quản kho.”
Ông Phùng nhận bát nước. “Được.”
Tối đến, người giữ thư gọi Thanh Nghi. Một mảnh giấy từ ngoại viện đã tới trạm, được chuyển qua hai chặng và còn nguyên dấu gấp. Nàng mở ra dưới đèn. Bảo nhìn gương mặt nàng, thấy nàng đọc chậm hơn thường lệ.
“Người ta nhờ đã tìm thấy một mục ghi giao lệnh,” nàng nói. “Trong sổ có tên ta và số mười bảy. Nhưng người ấy chưa tìm thấy tờ nhận riêng, đang hỏi chỗ cất giấy cũ.”
Bảo ghé lại. Lá thư ghi tên quyển sổ và nơi đang giữ, không kèm giấy gốc. Người viết hứa báo tiếp sau khi hỏi người phụ trách, không khẳng định biên lai còn hay mất.
“Có tên nàng rồi,” Bảo nói.
“Có một dòng được báo lại. Ta muốn nhìn tận mắt, và cần biết tờ nhận gốc ở đâu.”
Nàng viết thư đáp, xin người quen giữ nguyên trang sổ, ghi lại tên người phụ trách và hỏi có thể đối chiếu bản gốc bằng cách nào. Nàng không nhờ xé trang hay gửi sổ đi. Bảo ngồi bên, cầm đèn cho tới khi mực khô.
Ngoài sân, Ô Kê gõ mỏ vào bát rỗng. Bảo mang ít thóc ra, đặt bát dưới mái. Hắn nhìn con gà ăn rồi quay lại phòng. Trên bàn, hai mảnh giấy nằm cạnh nhau: một bản chép từ chuyến hàng và một lá thư báo về sổ cũ. Giữa chúng vẫn còn chỗ trống, nhưng lần đầu tiên Thanh Nghi biết nên tìm trang nào để nối hai đầu.