Chương 357: Con Gà Không Chịu Rời Giếng
Sáng sớm, Ô Kê không ăn thóc.
Tạ Tiểu Bảo đưa máng tới sát cửa lồng. Con gà nhìn hạt thóc, mổ một hạt rồi ngẩng đầu về phía giếng. Bảo chờ nó cúi xuống lần nữa, nhưng nó chỉ dùng mỏ đẩy máng, làm mấy hạt rơi ra ngoài.
“Ngươi không ăn thì để ta ăn?”
Ô Kê nhìn hắn. Bảo cũng nhìn nó. Một lúc sau hắn nhặt các hạt thóc, bỏ lại vào máng và thừa nhận mình không muốn ăn thóc sống.
Hắn đem chuyện kể với Dư An. Ông xem mắt và chân con gà, bảo chưa thấy vết thương, rồi hỏi từ hôm qua nó đã ăn được bao nhiêu. Bảo chỉ nhớ lúc tối nó ăn từng hạt, không đếm. Hắn lấy một ít thóc đong vào chén nhỏ, quyết định hôm nay sẽ để ý lượng còn lại.
“Đừng vì nó bỏ một bữa mà ép,” Dư An nói. “Nhưng nếu nó tiếp tục không ăn, báo ta.”
Bảo gật đầu. Hắn vẫn muốn biết vì sao Ô Kê cứ nhìn về giếng, nhưng không định để nó tự chạy như lần trước. Ở đó có người giữ dây gàu, có khe nước và những viên đá chưa biết đỡ thứ gì. Hắn đem ý định ra nói với Hổ.
“Con muốn đưa nó tới giếng một lát. Lần này con sẽ trông.”
Hổ đang buộc lại quai sọt. “Ta đi cùng. Nếu nó muốn ra khỏi lồng, ta tìm chỗ không vướng chân người trước.”
Thanh Nghi nghe thấy, cầm theo tờ sơ đồ giếng chép từ giấy của ông Diệp. Nàng nói có thể hỏi Cẩn xem quanh sân có chỗ nào an toàn cho Ô Kê đi lại; không cần đặt nó sát khe đá. Dư An ở lại với bà Mạnh, hứa sau bữa trưa sẽ đưa bà ra hiên nếu bà muốn.
Bảo đặt chén thóc vào lồng, thêm nước, rồi cùng Hổ khiêng lồng ra chỗ Xám. Con la vừa được chải lưng, bộ lông xám còn dính vài cọng rơm. Nó ngoái đầu nhìn chiếc lồng quen thuộc và hắt hơi, thổi một cọng rơm lên tóc Bảo.
“Ta chưa buộc xong,” hắn bảo nó. “Ngươi đã muốn đi rồi à?”
Hổ gỡ cọng rơm xuống. “Có lẽ nó muốn ăn sáng yên ổn.”
Bảo nhận ra mình vừa đặt sọt ngay trước máng cỏ. Hắn dời sọt sang bên, đợi Xám ăn thêm một lúc. Ô Kê thì không đụng tới thóc; nó đứng sát nan, nhìn con đường giữa những mái nhà.
Tới sân giếng, họ gặp ông Cẩn đang trò chuyện với ông Thuận. Tín kê tấm ván cạnh rãnh như đã hứa, dùng làm chỗ đặt thước và bản vẽ. Ông Cẩn vừa nghe kể việc tìm thấy giấy bàn giao, đang định tới nhà bà Mạnh hỏi thăm. Bảo báo bà đã nghe hết bản chép tối qua.
“Bà nói gì thêm không?” ông hỏi.
“Bà chạm tay con. Con không nghe được lời nào khác.” Bảo đặt lồng dưới mái. “Hôm nay con đưa Ô Kê tới. Nó không chịu ăn mấy.”
Ông Thuận ngồi xuống nhìn con gà. “Nó vẫn muốn tới chỗ cũ à?”
Bảo kể chuyện Ô Kê đã mổ khe đá hôm trước. Cẩn nhìn quanh sân, chỉ một khoảnh đất khô bên bức tường thấp, cách rãnh và bác giữ dây gàu vài bước. Ở đó có thể nhìn thấy chân giếng mà không phải chen qua ai. Hổ đề nghị dựng một hàng rào tạm bằng mấy tấm phên mượn từ nhà ông Thuận.
“Hàng rào không cần cao,” anh nói. “Chỉ cần nếu nó chạy, ta có thời gian gọi lại.”
Bảo thấy Ô Kê có thể nhảy qua phên. Nhưng như vậy vẫn hơn mở lồng giữa sân. Ông Thuận mang tới ba tấm phên nhỏ, Cẩn và Tín kiểm chân phên, không để chúng đổ về phía người qua đường. Thanh Nghi kéo bản vẽ khỏi chỗ bụi đất, còn Bảo trải một ít rơm lên nền khô.
Khi mở cửa, hắn đưa tay đón Ô Kê. Con gà bước ra, đi một vòng, rồi dừng trước tấm phên hướng về giếng. Nó không cào đất. Bảo đặt máng thóc và nước cạnh bức tường, để lồng mở ở phía sau; nếu muốn, nó có thể tự quay vào.
Ô Kê đi dọc hàng phên, từ đầu này sang đầu kia. Tới chỗ có khe giữa hai nan, nó cúi xuống nhìn. Bảo theo hướng mắt nó, chỉ thấy một khoảng sân và chân giếng phía xa. Người giữ dây gàu đứng giữa hai nơi ấy, tay vẫn bám sợi dây.
“Ngươi muốn tới đó?” hắn hỏi.
Con gà mổ nan tre một cái.
Hổ đứng bên ngoài, hỏi ông Cẩn liệu có thể mở một đoạn phên rồi dẫn nó đi qua khoảng sân không. Cẩn xem đường, lắc đầu: một người đang gánh hai thùng nước tới. Ông đề nghị chờ người ấy qua rồi mới quyết. Mọi người đứng đợi, trong khi Ô Kê tiếp tục đi dọc hàng phên.
Người gánh nước nhích từng bước. Bảo nhìn đôi vai gầy dưới đòn gánh, chợt nhớ tờ giấy trong hộp: cửa dồn phần chưa chia vào người trong làng. Hắn không biết người ấy đang gánh nước cho nhà mình hay làm việc giúp ai, cũng không biết có thể san sẻ gánh nặng nào ngoài hai thùng trước mắt.
Hắn tới gần, hỏi có thể giúp đỡ không. Người gánh không đáp ngay. Hổ mang một chiếc ghế tới đặt bên đường, cách chân người ấy đủ xa, rồi nói nếu muốn nghỉ thì có ghế. Bảo đứng chờ, không tự nhấc thùng. Một hồi lâu, người ấy chuyển ánh mắt sang chiếc ghế, bàn tay trên đòn gánh nhúc nhích.
Hổ đỡ một đầu đòn gánh khi người ấy dần hạ xuống. Hai thùng nước được đặt trên nền, không đổ giọt nào. Người gánh ngồi xuống ghế rất chậm; Bảo đứng bên cạnh, nói nước vẫn ở đây, họ sẽ không mang đi khi chưa biết nơi cần giao.
Lúc ấy, phía sau bức phên vang lên một tiếng động. Ô Kê đã nhảy lên mép phên, hai chân bám nan. Nó nghiêng người nhìn qua, cánh xòe ra để giữ thăng bằng.
“Ô Kê!”
Bảo bước nhanh tới, nhưng Hổ giữ hắn lại. Dưới chân phên có bát nước; nếu đụng đổ, con gà có thể giật mình nhảy xuống hướng rãnh. Anh vòng ra phía ngoài, chắn lối giếng, còn Bảo đưa chén thóc lên.
Ô Kê không nhìn thóc. Nó nhảy xuống phía trong, chạy tới góc tường và bới lớp rơm. Mấy cọng rơm văng ra, để lộ một mảnh sành màu nâu. Con gà mổ hai lần vào mảnh sành, rồi dừng.
Bảo vào sau phên, ngồi xuống. Mảnh sành chỉ bằng hai ngón tay, một mặt cong, có đường men đen ở mép. Hắn không nhặt ngay; trước hết hắn nhìn vị trí và hỏi Cẩn có thể lấy lên không. Người thợ kiểm nền đất, bảo đó là mảnh rời nằm trên mặt, không giữ gì bên dưới.
Bảo nhặt bằng hai tay. Mặt trong dính đất, còn mặt ngoài có một nét đỏ sẫm mờ đến mức ban đầu hắn tưởng là vết bẩn. Ông Thuận xin xem. Ông đưa ra chỗ sáng, nghiêng mảnh sành qua lại, rồi dùng nước thấm đầu khăn lau một góc nhỏ.
Một nét cong hiện lên, bên cạnh là ba vạch ngắn. Chúng không giống hẳn ba vạch trên viên đá. Những vạch này xòe ra từ một điểm, như mấy sợi lông hoặc những tia lửa được vẽ bằng bút.
“Có thể là hoa văn trên cái bát,” ông Thuận nói.
Bảo nhìn Ô Kê. “Nó tìm mảnh này sao?”
“Ta chỉ thấy nó bới rơm rồi mổ,” Thanh Nghi đáp. “Mảnh sành nằm đúng chỗ ấy. Còn nó định tìm gì, ta chưa biết.”
Hắn hơi thất vọng, nhưng vẫn đặt mảnh sành trên tấm ván và vẽ lại hai mặt. Tín ghi vị trí nhặt được, cạnh bức tường, phía trong hàng phên. Ông Cẩn nói chỗ ấy trước đây từng là nơi người ta ngồi nghỉ khi lấy nước; bát chén vỡ không phải hiếm. Muốn biết thêm, có thể hỏi người già trong làng có nhận ra hoa văn không.
Ô Kê lại đi tới mép phên. Lần này nó không nhảy, chỉ áp sát nan. Bảo ngồi ở trong cùng nó, rải mấy hạt thóc. Con gà ăn ba hạt, uống một ngụm nước rồi tiếp tục nhìn giếng.
“Ba hạt,” hắn báo Dư An trong tưởng tượng, rồi tự lắc đầu. “Không được. Lúc đầu nó đã ăn một hạt nữa.”
Hắn ghi vào sổ: *Sáng ăn ít nhất bốn hạt, có thể còn hơn.* Thanh Nghi nhìn thấy, cười bảo nếu muốn biết chính xác thì lần sau đếm từ đầu. Bảo đáp hắn sẽ đếm, nhưng Ô Kê phải hứa đừng hất máng.
Con gà mổ thêm một hạt rồi bỏ đi. Hắn vội sửa số bốn thành năm.
Gần trưa, người gánh nước đã ngồi yên trên ghế. Khi ông Thuận hỏi hai thùng cần đưa tới đâu, người ấy chậm chạp hướng mắt về một ngõ phía đông. Ông không vội mang đi; ông bảo sẽ đợi câu trả lời rõ hơn, rồi ngồi cạnh người ấy, kể chuyện mẻ cá sáng nay. Giọng ông đều đều, như thể hai người đang có cả buổi để nói.
Bảo trở lại với Ô Kê. Hổ và Cẩn đã bàn xong: hôm nay chưa dẫn nó sát giếng, vì người qua lại vẫn nhiều và cả nhóm chưa biết nó có bới vào khe nữa không. Bảo không thích quyết định ấy. Hắn biết con gà đã nhìn về giếng từ khi trở về làng, và chính nhờ nó chạy tới đó mà hắn bắt đầu để ý chân giếng. Nhưng muốn biết thêm không có nghĩa hắn có thể để nó chen vào chỗ bác giữ dây.
Hắn ngồi xuống ngang tầm Ô Kê. “Ta sẽ đưa ngươi tới nữa. Chúng ta tìm một đường khác, được không?”
Ô Kê đi ngang qua tay hắn, quay vào lồng uống nước. Hổ khép cửa sau khi nó đã đứng yên, buộc dây vừa đủ chắc. Bảo đếm thóc còn lại trong chén rồi đối chiếu với chỗ đã đong, nhưng trong lúc di chuyển một ít hạt rơi xuống rơm. Hắn đành ghi: *Không biết đã ăn hết bao nhiêu; có hạt rơi.*
Thanh Nghi cầm mảnh sành hỏi ông Cẩn có thể đưa cho ông Diệp xem không. Người thợ đồng ý, nhưng ông Diệp đã về nghỉ. Ông hẹn chiều hỏi, rồi trả lại mảnh sành sau. Bảo nhờ ông nói rõ nơi tìm thấy và cả việc Ô Kê đã mổ vào đó, không chỉ đưa hình hoa văn.
Về tới nhà, hắn báo Dư An lượng thóc mình biết và lượng không biết. Dư An xem con gà lần nữa, bảo theo dõi tiếp, đặt máng nước và thức ăn ở chỗ dễ với. Bảo không tự đổi thức ăn chỉ vì thấy nó bỏ bữa. Hắn đặt lồng dưới mái thoáng, có bóng râm và chỗ tránh gió.
Buổi chiều, bà Mạnh được đưa ra hiên. Hổ và Dư An hỏi trước, đợi bà nhìn về phía cửa rồi mới kê ghế, dìu bà từng chút. Từ ghế ấy bà thấy được lồng Ô Kê và một góc đường dẫn tới giếng. Bảo đặt bản chép mảnh sành trên bàn nhỏ cạnh bà, kể từ lúc con gà leo phên cho tới khi nó mổ mảnh vỡ.
“Trên ấy có nét đỏ. Có thể chỉ là hình vẽ trên bát.” Hắn chỉ ba vạch trên bản chép. “Ông Cẩn mang mảnh thật đi hỏi ông Diệp. Con chưa biết con gà muốn gì.”
Bà Mạnh nhìn tờ giấy. Bảo không đòi bà trả lời, chỉ ngồi bên hiên nhặt rau. Hắn rửa từng nắm trong chậu, để riêng lá dập cho Xám; Hổ nói phải xem loại rau ấy con la có ăn được không, thế là hắn lại nhặt riêng ra một chiếc rổ khác.
Khi ông Cẩn trở lại, nắng đã xuống thấp. Ông đưa mảnh sành bọc vải cho Bảo, nói ông Diệp nhìn rất lâu. Ông già chưa nhận ra vật ấy thuộc chiếc bát nào, nhưng khi thấy bản vẽ, ông yêu cầu Cẩn lấy một vật trong hòm gỗ ra xem. Đó là mảnh ván cũ, trên có dấu sẫm hình cong và những vạch tỏa quanh.
“Có giống mảnh này không?” Bảo hỏi.
“Có vài nét giống. Ván lớn hơn, dấu cũng khác chỗ.” Cẩn lấy bản chép của mình ra. “Ông Diệp bảo đây là dấu ở mặt sau một tấm biển cũ từng treo gần giếng. Ông không nói được biển dùng làm gì.”
Trên giấy, nét cong trông giống một cái thân nhỏ, còn các vạch có thể là lông. Cũng có thể là ngọn lửa. Bảo xoay tờ giấy nửa vòng; hình lập tức giống một chiếc lá bị sâu ăn.
“Con gà hay ngọn lửa?” hắn hỏi.
“Ngày mai ta hỏi tiếp,” Cẩn đáp. “Hôm nay ông Diệp mệt rồi.”
Bảo đặt hai bản vẽ cạnh nhau, không vẽ thêm chỗ đã mất. Bà Mạnh nhìn mảnh giấy một lúc. Bàn tay bà chuyển chậm về phía bản vẽ tấm biển, dừng ở khoảng trống bên dưới hình. Bảo chờ. Môi bà động đậy, nhưng trong tiếng bếp reo hắn không nghe rõ.
Hắn nhấc nồi nước khỏi bếp cho bớt tiếng, rồi trở lại ngồi. Bà phát ra một âm ngắn, đứt giữa chừng. Hổ và Dư An cùng ghé lại, vẫn không ai chắc bà nói gì. Thanh Nghi viết xuống: *Bà muốn nói; chưa nghe rõ.*
Ô Kê gõ mỏ vào máng. Bảo quay ra nhìn. Con gà đang đứng trong lồng, đầu hướng về tấm giấy trên bàn. Hắn cầm bản vẽ tới gần, để ngoài nan. Ô Kê bước tới, mổ một cái vào mép giấy, ngay cạnh hình cong.
“Ngươi đừng sửa hình,” Bảo nói, nhưng không rút giấy đi ngay.
Con gà không mổ nữa. Nó đứng nhìn, rồi quay đầu về phía giếng. Bảo đặt bản vẽ lên bàn, lấy bút đánh dấu chỗ mỏ chạm vào mép giấy. Hắn nhớ lần trước nó cũng từng mổ giấy, để lại một chấm không liên quan đến sơ đồ hai bậc đá. Một cú mổ chưa đủ để hắn biết Ô Kê nhận ra hình hay chỉ muốn cắn giấy.
Nhưng tấm biển cũ đang nằm trong hòm nhà ông Diệp. Ngày mai, nếu ông cho phép, hắn có thể tự nhìn dấu ấy và hỏi ông đã từng thấy nó ở đâu. Bảo gấp bản chép cẩn thận, để cạnh giấy bàn giao ca, rồi mang rau vào bếp.
Trước khi trời tối hẳn, Ô Kê ăn thêm một ít thóc. Lần này Bảo đếm được mười hai hạt. Hắn ghi đủ mười hai, thêm một dòng bên dưới: *Nó vẫn nhìn về giếng.*