Chương 481: Tấm Bản Đồ Của Người Bán Đậu
Thầy thuốc xem chân người đánh xe dưới ánh đèn bếp. Ông tháo lớp vải băng, hỏi người ấy có cử động được các ngón chân không. Anh làm theo, mặt nhăn lại vì đau.
“Cần đưa xuống nơi có đủ đồ xem kỹ hơn,” thầy thuốc nói. “Đêm nay cứ để chân cao, đừng cố đứng. Ta sẽ ở lại, sáng mai mượn cáng.”
Người chủ xe hỏi bao lâu anh mới đi được. Thầy thuốc lắc đầu. “Chưa xem kỹ thì ta không nói trước.”
Bảo thấy người đánh xe quay mặt vào vách. Mấy chuyến hàng còn nằm trong sân, anh không thể tự đưa về. Con trai chủ xe đưa cho anh chiếc chăn khô, nói mình sẽ đánh xe thay khi đường thông. Người chủ nhìn con, rồi bảo sáng mai ông cũng đi cùng, hàng đến nơi sẽ thuê thêm người bốc.
Bữa tối có canh mướp. Bảo cắt quả mướp Tín gửi thành những miếng vừa ăn, bỏ thêm ít rau khô. Mai chia gạo mới mua thành hai phần, một phần nấu ngay, một phần giữ cho sáng. Cô lấy tiền thu từ mấy bát cơm đặt trong chiếc hộp, ghi riêng tiền người chủ xe đưa mời thầy thuốc. Thầy thuốc chỉ nhận tiền đi đường và thuốc đã dùng; phần còn lại ông trả cho người đưa.
Thanh Nghi cùng nhóm khách sửa mái kho trở vào sau cùng. Nàng kể hai xóm hai phía đang chờ đất ổn định rồi mới dọn đường. Có người muốn kéo tảng đá chắn giữa lối ngay trong đêm, nhưng người quen đường khuyên đợi trời sáng để nhìn được các vết nứt. Họ thống nhất cử người canh, không cho xe đến gần.
Bảo đặt bát xuống trước mặt nàng. “Hôm nay ngươi đi suốt, ăn thêm đi.”
“Ngươi cũng vậy.” Nàng đẩy bát canh về giữa. “Quả mướp này do Tín mua thật à?”
“Chữ của nó thì thật. Tiền trừ bánh cũng thật.”
Mai ngồi cùng họ, lần đầu từ lúc Bảo tới trạm mới có một bữa không phải đứng dậy giữa chừng. Cô hỏi hắn đã tìm chuyến gạo bao lâu. Bảo kể từ khi trang sổ được tách, đến cuộc gặp ông Lương và lời ông tự sửa. Hắn không kể hộ những chuyện riêng trong thư của gia đình người giữ sổ.
“Mẹ chồng tôi ít nhắc nhà chợ,” Mai nói. “Có lần tôi hỏi vì sao bà giữ ống tre, bà bảo còn người chưa lấy. Tôi tưởng là đồ gửi thông thường.”
“Bà có kể về bếp dưới chợ không?”
“Bà nói ở đó từng nấu cơm cho người chở hàng và người làm chợ. Khi chợ dời đi, bếp đóng. Chồng tôi còn nhỏ lúc theo bà dọn đồ, chắc anh ấy nhớ hơn tôi.”
Bảo nhìn ngọn lửa. Hắn đã biết bếp là nơi lá thư muốn chuyển gạo đến; nhưng biết tên nơi chưa có nghĩa là biết ai đã ăn, ai còn thiếu. Hắn hỏi Mai có phiền nếu hắn gặp chồng cô. Cô đáp cứ chờ anh tới, rồi hai người tự nói với nhau.
Sáng hôm sau, Thắm và con trai chủ xe làm cáng bằng tre, buộc thêm một lớp đệm. Thầy thuốc kiểm tra lại chỗ buộc, dặn nâng đều hai đầu và dừng nghỉ nếu người bệnh đau. Người đánh xe được khiêng xuống núi cùng thầy thuốc; chủ xe đưa tiền thuê người phụ, còn Mai gói cho họ cơm nắm.
Bảo nhìn theo đến khi chiếc cáng khuất sau khúc đường. Hắn muốn giúp khiêng, nhưng Thắm đã tìm đủ người khỏe đường; hắn ở lại dọn bếp và trả lời những người vừa tới hỏi chỗ trú. Thanh Nghi giúp nhóm dọn đường chuyển dụng cụ tới điểm tập kết, không đi vào phần dốc còn nứt.
Đến trưa, chồng Mai vượt cầu gỗ sang. Anh tên Ninh, trên lưng đeo túi vải, trong túi có thư của dì Cúc. Anh đọc thư ở nhà, gửi con cho hàng xóm rồi đi ngay. Thấy Mai bình an, anh đứng yên một lúc, hai vai mới thả xuống.
“Con có chịu ăn không?” Mai hỏi.
“Có. Nó bảo khi mẹ về phải mang bánh.”
“Bánh ở đâu?”
“Ta chưa nói là mẹ có.”
Mai đánh nhẹ vào tay anh. Sau đó cô đưa ống tre và bản chép cho chồng xem. Ninh đọc mẩu thư gốc rất lâu, ngón tay dừng ở hai chữ tên nhòe.
“Ta không nhớ mẹ từng kể chuyến gạo này,” anh nói. “Nhưng ta nhớ tấm ván che cửa bếp.”
Hồi dọn nhà, anh còn nhỏ. Bà Liên bắt anh ngồi trên chiếc cân đồng, không cho xuống dưới vì cầu thang tối. Anh nhớ bà và một người đàn ông lớn tuổi khiêng những chiếc nồi lên, sau đó dựng tấm ván che cửa. Trên ván, bà dùng than vẽ đường đến bếp để người đến nhận đồ khỏi nhầm vào kho thuốc sát bên.
“Tấm ván còn không?” Bảo hỏi.
“Ta không biết. Nhà bán rồi, nhưng dì Cúc từng xin một ít đồ cũ. Có lẽ dì nhớ.”
Thanh Nghi vừa về, nghe đến đó hỏi người đàn ông lớn tuổi có phải tên Phúc không. Ninh lắc đầu. Anh chỉ nhớ người ấy đội nón rách và hay ho; không nhớ tên. Anh nói nếu Bảo muốn hỏi về bếp, dì Cúc có lẽ biết nhiều hơn. Bà bán đậu ở chợ cũ lâu hơn anh sống tại đó.
Ninh đồng ý cho họ giữ bản chép, còn mẩu giấy và ống tre anh xin mang về. Bảo đề nghị trước khi cuộn lại, anh xem kỹ dấu ngoài vỏ và dấu trong thư. Ninh đặt hai thứ cạnh nhau; dấu trên vỏ chỉ còn một nét cong, không đủ để kết luận. Anh bọc lại cẩn thận, nhét vào túi trong áo.
Chiều hôm ấy, người dọn đường báo đã mở được lối cho người đi bộ, nhưng xe phải chờ thêm. Mai và Ninh bàn với nhau: Ninh ở lại trạm hai ngày, Mai về xem con rồi quay lên. Thắm chuẩn bị chuyến xe xuống núi, chở một phần hàng nhẹ theo đường không bị sạt. Bảo hỏi cô còn chỗ không; cô bảo hàng không nhiều, có thể chở họ về nếu hai người giúp xếp.
Trước lúc đi, Bảo bàn giao Nhân Gian Lô cho Mai dùng nấu nồi cháo chiều, rồi thu lại khi bếp trạm đã nhóm được bằng củi khô. Hắn không để nồi lại vì chính Mai nói cô đã có bếp và đủ người phụ. Thắm trả hắn tờ giấy ghi gạo, có thêm dòng Mai viết xác nhận số đã dùng, số còn lại và phần tiền cô sẽ gửi về trả gạo mượn.
Họ xuống núi khi mặt trời đã nghiêng. Đi qua đoạn mương, Bảo thấy rãnh tạm đã được lấp phần lớn; một lối thoát nhỏ vẫn chừa lại như Đại nói. Nước trong mương chảy qua ống mới, không tràn vào sân cô Thu. Hắn định ghé vào báo mình về, nhưng bà Mạnh đã đứng ở đầu ngõ với Tín và Ô Kê.
Con gà chạy đến, mổ vào ống quần còn dính bùn của hắn. Tín chìa tay ra: “Tiền mướp.”
Bảo lấy túi tiền, đếm rồi đặt lên tay cậu. “Còn nợ bánh không?”
“Con chưa tính xong.”
Bà Mạnh nhìn Thanh Nghi từ đầu đến chân, hỏi hai người có bị thương không. Nghe họ đáp không, bà mới quay vào nhà, bảo cháo đang nóng. Đợi Bảo ăn được nửa bát, bà mới hỏi chuyện trên trạm.
Hắn kể về người đánh xe, ba mẹ con qua cầu, và mẩu thư trong ống tre. Đến chuyện bếp dưới chợ, hắn lấy bản chép đưa bà. Bà đọc rồi nói dì Cúc đã ghé buổi sáng; nghe tin đường sạt, dì lo thư không tới, nhưng cũng nói nhà còn một tấm ván vẽ đường cũ.
“Dì không biết có phải thứ con cần,” bà nói. “Dì bảo nếu con về thì sang xem.”
Bảo đặt bát xuống. Bà Mạnh chưa kịp nói, hắn đã cầm lên ăn nốt. Thanh Nghi đứng cạnh cửa, chờ hắn uống nước rồi mới cùng đi.
Nhà dì Cúc có sân phơi đậu. Tấm ván được dựng sau mấy chiếc mẹt, một mặt đã dùng kê đồ nên dính bột trắng. Dì lau qua bằng khăn khô; những nét than mờ hiện ra. Có hình mái chợ, một giếng nước, ba bậc thang và hai ô vuông. Một ô ghi kho thuốc, ô kia ghi bếp. Giữa hai ô có dấu mũi tên chỉ xuống.
“Chị Liên vẽ cho ta,” dì nói. “Có lần ta mang đậu xuống bếp, đi nhầm kho thuốc, bị người ta mắng. Sau đó chị vẽ, treo ngay cửa sau.”
Thanh Nghi hỏi có thể mượn ván để đối với khu chợ hiện nay không. Dì Cúc đồng ý, nhưng dặn mặt sau có chỗ mục, không được dựng ngoài mưa. Bảo và nàng cùng khiêng ra, không kéo lê qua sân.
“Dì biết ai giữ bếp lúc ấy không?” Bảo hỏi.
“Có một ông già làm bếp, mọi người gọi bác Phúc.” Dì ngừng lại. “Nhưng ta không biết ông ấy có phải người giữ đường các cháu đang tìm. Ta chưa từng thấy ông chở hàng.”
Bảo nhìn mũi tên trên ván. Lần này họ có một lối đi và một người từng đứng ở cuối lối ấy. Hắn vẫn chưa biết hai chữ Ph nhòe trong thư có phải tên bác Phúc, cũng chưa biết những bao gạo đã đến bếp hay chưa.
Sáng mai, hắn sẽ đến hiệu nhuộm hỏi chủ nhà về phần sân từng thuộc chợ cũ. Tối nay, hắn mang tấm ván về nhà bà Mạnh, đặt nằm ngang trên hai chiếc ghế để mặt than không cọ xuống đất. Ô Kê nhảy lên một đầu ghế, nghiêng đầu nhìn mũi tên, rồi mổ thử vào vết than.
“Chỗ ấy không có thóc,” Bảo nói, bế nó xuống.
Hắn phủ một tấm vải mỏng lên bản đồ. Dưới lớp vải, mũi tên vẫn chỉ về căn bếp đã đóng.