Chương 444: Tấm Ván Thứ Ba
Người sửa giếng đến trước khi Bảo ăn sáng.
Ông mang một cuộn dây, chiếc đèn và cái thước gỗ dài. Bà Mạnh đã nhờ người sang xóm bên gọi từ chiều qua. Nước giếng phụ sáng nay bớt đục, nhưng dưới đáy gàu vẫn còn cặn. Người sửa giếng quan sát bờ, tìm thấy một khe hở giữa hai phiến đá sát rãnh nước.
“Có thể nước mặt vào qua đây,” ông nói. “Muốn chắc hơn phải xem phía trong. Hôm nay đừng dùng giếng này lấy nước ăn.”
Bảo hỏi ông có cần xuống giếng không. Ông lắc đầu, bảo chưa cần; trước hết phải làm sạch rãnh và xử lý khe bên ngoài. Ông cần thêm đá chèn, đất và người giữ thước. Hổ nhận giúp sau khi đổi ca. Người đàn ông xóm trên hôm qua làm rách bao đất cũng tới, mang theo hai viên đá phẳng.
Tín ngồi cạnh bếp gói bánh, hỏi Bảo: “Giờ nước có trong thì uống được chưa?”
“Ông ấy chưa bảo dùng được.”
“Đệ chỉ hỏi thôi.”
“Ta cũng chỉ trả lời thôi.”
Tín lấy một chiếc bánh nhét vào miệng hắn. Bảo không nói thêm được nữa.
Đến trưa, người sửa giếng cùng mọi người đã dọn hết đất sát miệng giếng và chèn lại khe hở phía ngoài. Ông dặn tiếp tục lấy nước chỗ khác, chờ kiểm tra sau khi nước lắng và xem bờ có còn thấm không. Bà Mạnh nhờ cô em nhà bác giữ dây báo các nhà ở gần. Cô đồng ý, rồi về ngủ sau lượt trực đêm.
Bảo đưa Hổ bát nước nóng rửa tay. Hai người ngồi dưới bóng cây, nghe tiếng thước gỗ của người sửa giếng gõ vào thành đá. Bảo hỏi anh có mệt không. Hổ đáp có, nhưng muốn chờ ông thợ làm xong phần cần người phụ. Lát nữa người chị sẽ thay anh trực giếng chính, còn anh về nghỉ.
Người đưa thư của trạm đến lúc mặt trời đứng bóng. Anh mang một phong bì cho bà Mạnh và một bức khác gửi Thanh Nghi. Thư của bà Lê nói một người từng làm ở bến đồng ý gặp khách vào ngày hôm sau, tại quán gần bến. Bà ghi đường đi và nhờ họ đến không quá ba người, vì người ấy sức yếu, không muốn tiếp đông. Bà không viết tên người ấy, chỉ nói sẽ tự giới thiệu khi gặp.
Bảo đưa thư cho Thanh Nghi. Nàng đọc xong, hỏi bà Mạnh có muốn đi không. Bà nói muốn, nhưng còn việc ở giếng phụ và cần ở lại xem sau khi thợ xử lý. Người chị nhà bác giữ dây cũng muốn nghe chuyện, song đã hứa thay ca và đưa bác đi khám chân.
“Ta đi cùng Thanh Nghi,” Bảo nói. “Nếu mọi người muốn hỏi gì, ta có thể mang theo.”
Bà Mạnh nhận lời, nhưng dặn đừng nhận câu trả lời thay người làng. Bà muốn biết ở bến đã xảy ra việc gì, người kể có biết mẹ bà Lê không và có ai nhớ chuyện cắt mối. Người chị thêm câu hỏi về tấm thẻ ba rãnh. Bảo viết các câu ấy lên một tờ giấy, chừa khoảng trống dưới mỗi dòng.
Tín nhìn tờ giấy. “Đệ đi được không? Còn một chỗ.”
Thanh Nghi hỏi cậu có muốn nghe chuyện ở bến hay chỉ muốn đi đường. Tín ngẫm một lúc, đáp cả hai. Cậu cũng muốn tự hỏi vì sao người nhận ca lại dời tấm chắn mà không báo. Bảo bảo đó là chuyện bà Lê nghe mẹ kể; người được mời gặp chưa chắc biết. Tín nói mình vẫn muốn hỏi nếu có dịp.
Họ thỏa thuận ba người cùng đi. Tín xin Hổ trông bếp giúp buổi sáng, còn mình chuẩn bị cơm từ tối. Hổ bảo không thể trông bếp trong lúc trực, nhưng có thể nhờ người khác nếu họ đồng ý. Cuối cùng bà Mạnh nhận nhóm bếp cho bác giữ dây, còn gia đình Bảo để sẵn phần cơm nguội và thức ăn có thể dùng không cần nấu.
Sáng hôm sau, ba người khởi hành. Đường đến bến qua một cánh đồng đã gặt, sau đó men theo con lạch. Tín đi trước, cầm tờ chỉ đường của bà Lê. Đến chỗ rẽ có hai cây gạo, cậu dừng lại.
“Bà viết cây lớn bên trái. Nhưng cây nào lớn hơn?”
Bảo nhìn hai thân cây. Một cây cao, cây kia gốc rộng. Thanh Nghi chỉ xuống dòng tiếp theo: qua cầu gỗ nhỏ, thấy mái quán lợp lá. Tín nhăn mặt, thừa nhận mình mới đọc đến nửa câu. Cậu đưa giấy cho nàng giữ đến khi qua cầu.
Quán chỉ có hai bàn, sát mép nước. Bà Lê đang ngồi với một ông già mặc áo xám. Trước mặt ông là chén trà đã nguội. Thấy ba người, bà đứng lên giới thiệu ông tên Du, từng chèo thuyền và có thời gian nhận việc ở bến cùng mẹ bà.
Ông Du nhìn Tín, rồi nhìn chiếc túi đeo bên hông Bảo. “Các cháu đến hỏi chuyện gì?”
Bảo nói họ đang tìm hiểu câu ghi trong sổ về việc giao ca và người chịu phần mất. Hắn không lấy chiếc nồi ra làm bằng chứng; nó đang ở làng. Thanh Nghi kể Lục Hòa đã viết câu ấy từ lời một người trực ở nơi có nước, nhưng chưa xác nhận người ấy là ai. Ông Du nghe, không ngắt lời.
Bà Lê đặt thẻ gỗ ba rãnh lên bàn. “Đây là thẻ mẹ cháu giữ. Bác có nhớ không?”
Ông cầm lên, vuốt một rãnh bằng đầu ngón tay. “Nhớ thẻ này. Ba rãnh là ba chỗ phải nhìn lúc nhận lượt: đầu bến, kho và tấm ván thứ ba.”
Tín nghiêng người. “Tấm ván thứ ba là gì ạ?”
“Một ván chặn ở lạch bên kho. Khi nước dâng, nhấc nó lên thì nước đi sang ruộng trũng. Hạ xuống thì nước dồn qua cửa bến.”
Bà Lê hỏi chuyện hàng bị ướt có phải do tấm ván ấy không. Ông Du đáp phải theo điều ông nhớ: hôm đó người nhận ca muốn thuyền chở hàng vào sớm nên hạ ván, nhưng không biết có nước đang dồn từ thượng lưu. Kho bên cạnh bị ngấm. Ông ở đầu bến, không tận mắt thấy ai hạ ván; ông chỉ đến sau khi nước đã lên.
“Người đó có báo cho mẹ cháu không?” bà Lê hỏi.
“Không báo ngay. Đến khi người nhà có kho tìm, họ mới nói. Mẹ cháu giận vì họ đã đi mất trước lúc người sau nhận ca.”
Ông kể bến đã bồi lấp từ lâu, kho cũ không còn. Tấm ván thứ ba được đưa về sửa mương cho một nhà ở phía trong, nhưng ông không nhớ nhà nào. Chuyện này chưa nói gì về chiếc nồi. Thanh Nghi hỏi ông có từng nghe cụm từ cắt mối không.
Ông nhíu mày. “Ta nghe người ta nói cắt dây neo, cắt đường nước. Cắt mối thì ta không nhớ. Có thể người khác dùng chữ ấy.”
Tín chỉ ba rãnh. “Nếu thẻ đã nhắc phải nhìn ván, sao người nhận ca vẫn hạ nó?”
Ông Du nhìn ra mặt lạch. “Thẻ nhắc nhìn, không nói phải làm thế nào. Hôm ấy họ thấy thuyền đợi, nghĩ hạ ván sẽ giúp được. Ta cũng từng giục họ cho thuyền vào. Ta không biết nước từ trên đang xuống.”
Bà Lê hỏi mẹ bà có kể chuyện ấy với Lục Hòa không. Ông nói không biết; sau khi nghỉ ở bến, ông ít gặp bà. Chính ông chưa từng gặp người tên Lục Hòa theo trí nhớ của mình. Bảo ghi điều ấy, cùng việc ông không tận mắt thấy người hạ ván.
Lát sau, ông Du lấy từ túi áo một mảnh giấy cũ. Trên đó là bản vẽ đơn giản: bến, kho, lạch và ba nét ngắn. Ông chỉ nét ngoài cùng là tấm ván thứ ba. Bản vẽ do ông vẽ lại nhiều năm sau để giải thích cho cháu, không phải sơ đồ lúc bến còn hoạt động.
“Các cháu có thể chép,” ông nói. “Nhưng ghi rõ ta vẽ theo trí nhớ. Ta không nhớ khoảng cách.”
Thanh Nghi chép sơ đồ vào mặt sau tờ câu hỏi. Nàng đọc từng chú thích cho ông nghe. Ông sửa vị trí kho sang bên trái lạch, rồi nói phần ấy cũng chỉ là điều ông nhớ. Tín nhìn hình vẽ, tự hỏi nếu nước đi sang ruộng trũng thì ai sẽ bị ảnh hưởng. Ông Du đáp người chủ ruộng đã từng đồng ý cho dẫn nước lúc khẩn, nhưng ông không nhớ thỏa thuận ấy được nói trước hay sau vụ kho ướt.
Bà Lê ngồi yên một lúc. “Mẹ cháu chưa kể bác cũng giục thuyền vào.”
“Có lẽ bà ấy không biết.” Ông xoa hai bàn tay. “Ta đã không nói với bà. Ta chỉ nghĩ mình không phải người hạ ván.”
Bảo không biết nên nói gì. Ông Du nhìn bà Lê, giọng chậm hơn. “Nếu mẹ cháu còn sống, ta muốn kể lại phần ấy.”
Bà gấp tấm thẻ gỗ trong khăn. “Cháu không biết mẹ sẽ nói gì. Nhưng cháu muốn nghe bác kể tiếp, nếu bác còn nhớ.”
Họ ở lại thêm một lúc, uống trà và ghi những điều ông cho phép chuyển về làng. Ông không muốn tên chủ kho được ghi vào bản mang đi, vì chưa hỏi người nhà họ. Bảo chỉ ghi “một nhà có kho bên bến”. Ông đồng ý giữ tên mình trong phần xác nhận đã kể chuyện hôm nay.
Trước khi chia tay, bà Lê đưa Tín một gói bánh nướng. Cậu cầm lấy, hỏi có thể chia cho người ở làng không. Bà bảo gói này bà làm để ăn chung, cứ chia tùy cậu. Tín nhìn Bảo như chờ một lời bình; hắn chỉ hỏi bánh có đủ cho người vừa bị buộc phải nghe đệ đọc nhầm đường không.
Về tới làng, họ thấy giếng phụ vẫn được che bằng tấm ván báo tạm nghỉ. Bà Mạnh nói người sửa giếng sẽ đến xem lại vào sáng hôm sau. Ba người rửa tay bằng nước lấy từ nơi khác, rồi ngồi cùng mọi người đọc bản ghi.
Tấm ván thứ ba đã có vị trí trên một sơ đồ, và một người từng ở đầu bến đã kể phần trách nhiệm của mình. Mối liên hệ giữa bến ấy với dòng ghi của Lục Hòa vẫn chưa được xác nhận. Thanh Nghi gấp bản chép cẩn thận; ngày mai nàng sẽ viết hỏi bà Hòa liệu mẹ bà Lê có phải người từng kể cho bà hay không.