Chương 441: Bản Thư Đến Làng
Bảo và Thanh Nghi về đến làng khi nồi cơm vừa cạn nước.
Tín đứng trước bếp, tay cầm hai thanh củi. Thấy họ, cậu nhìn ngay xuống túi áo Bảo.
“Bánh hết rồi à?”
“Ừ.”
“Ăn xong không sao chứ?”
“Chưa biết. Ta mang một nửa chia cho Thanh Nghi, phải đợi xem cô ấy thế nào.”
Tín nhìn nàng. Thanh Nghi đưa tay lấy chiếc vá, gõ nhẹ lên thành nồi. “Ta thấy muốn ăn thêm cơm.”
Cậu tránh ra cho nàng mở nắp. Bảo rửa tay, nói cuộc gặp đã xong và người ký lệnh đã viết giấy rút lệnh. Tín há miệng định hỏi tiếp, nhưng thấy Thanh Nghi cẩn thận đặt tờ giấy lên chỗ bàn khô, cậu quay sang tìm khăn sạch lau nước bắn trên mặt gỗ.
“Ông ấy tự viết à?”
“Người chép việc viết, ông ấy đọc và ký,” nàng đáp. “Ta có một bản. Bản gửi làng đã giao chủ trạm chuyển.”
Bảo lấy bát, xới cơm cho cả ba. Hắn muốn kể ngay chuyện ở nhà trạm, nhưng Thanh Nghi đang vuốt phẳng mép giấy. Hắn ngồi xuống, đợi nàng tự nói.
Nàng kể người ký lệnh thừa nhận đã suy đoán việc chém nồi có thể ngăn nguy cơ. Ông không khẳng định nguy cơ đã hết; ông rút lệnh và hứa báo trước nếu có quyết định khác liên quan đến làng. Tín hỏi ông có đòi kiếm không. Nàng lắc đầu, đặt tay lên vỏ kiếm bên cạnh ghế.
“Ông chỉ nhìn dấu trên chuôi.”
“Vậy tốt rồi.” Tín xúc một thìa cơm, rồi dừng lại. “Nhưng nếu sau này ông lại muốn chém thì sao?”
“Ta không biết ông sẽ quyết gì,” nàng nói. “Nếu muốn làm lại việc ấy, ông phải nói trước. Ta vẫn không nhận lệnh.”
Ăn xong, Thanh Nghi mang thư sang nhà bác giữ dây. Bảo đi cùng, Tín ở lại dọn bếp. Bác đang ngồi ngoài hiên cùng hai con; cô em vừa thức sau ca trực, còn người chị chuẩn bị mang thuốc đến từ đường cho Hổ. Thanh Nghi nói rõ nàng có bản của mình, còn bản gửi làng đang ở trạm. Bác hỏi có thể đọc bản này trước không. Nàng đưa cho bác.
Bác cầm tờ giấy khá lâu. Chữ nhỏ, ánh sáng dưới mái hiên không đủ. Người chị kê ghế ra gần sân rồi đọc từng câu. Đến đoạn nói gia tộc sẽ báo trước quyết định khác, bác bảo con đọc lại.
“Báo trước cho ai?” bác hỏi.
“Trong giấy ghi gửi qua trạm đến làng,” Thanh Nghi đáp. “Không ghi riêng một người.”
Bác gấp mép giấy, rồi mở ra ngay. “Vậy lúc bản gửi làng đến, nên để bà Mạnh và những nhà đang giúp trực cùng xem. Không phải để ta giữ một mình.”
Cô em hỏi nếu gia tộc báo trước thì người trực có phải cho họ vào giếng không. Thanh Nghi nói không có điều khoản ấy trong thư. Bảo nhắc lời người ký ở trạm: ông nhận câu hỏi, nhưng không hứa mọi người trong gia tộc sẽ đồng ý với người làng. Người chị ghi riêng điều Bảo kể, phân biệt với những gì có trong giấy.
Bác nhìn Bảo. “Con thấy ông ấy thế nào?”
“Ông nghe khi Thanh Nghi nói không. Ông cũng nhận phần suy đoán là của mình.” Hắn ngừng lại. “Ta mới gặp một lần. Ta không biết sau này ông có làm đúng lời đã viết không.”
“Vậy để giấy ở chỗ mọi người xem được,” bác nói. “Nhớ giữ bản gốc khỏi ướt.”
Bà Mạnh đến sau đó, nghe họ kể từ đầu. Bà không giấu vẻ nhẹ nhõm khi đọc câu rút lệnh. Rồi bà hỏi Thanh Nghi có phải trả kiếm không. Nàng đáp ông không đòi tại cuộc gặp; lời mời nàng về gia tộc vẫn còn, nhưng nàng chưa quyết. Bà Mạnh không giục.
Đến chiều, người đưa thư của trạm tới. Anh mang bản gửi làng trong phong bì riêng và nhờ người nhận ghi tên vào sổ chuyển. Bà Mạnh kiểm tra dấu niêm, hỏi bác giữ dây và hai chị em có muốn cùng mở không. Họ đồng ý. Bác ngồi tại hiên; người chị mở phong bì, đưa giấy cho bà Mạnh đọc.
Nội dung khớp với bản Thanh Nghi mang về. Bà Mạnh ký nhận phong bì, không ký thay lời đồng ý với các quyết định tương lai. Người đưa thư nói sẽ về trạm trước tối, nếu làng có câu hỏi khẩn có thể gửi cùng. Không ai vội đưa câu hỏi mới; họ xin giữ địa chỉ hồi đáp và cảm ơn anh.
Khi anh đi rồi, bà Mạnh đề nghị chép một bản để ở từ đường. Bác giữ dây muốn bản gốc nằm trong hộp gỗ của làng, nơi có thể tránh mưa. Người chị nhận chép, cô em đọc đối chiếu. Thanh Nghi để bản riêng của mình bên cạnh; hai bản có cùng nội dung chính, chỉ khác dòng ghi người nhận.
Tín đem ấm nước tới, lén nhìn qua vai người chị. Chị đưa bút cho cậu giữ thẳng tờ giấy, bảo nếu muốn giúp thì giữ mép, đừng thở sát vào mực. Cậu giữ rất nghiêm túc, đến nỗi lúc chị viết xong hai ngón tay vẫn kẹp chặt.
“Buông ra,” chị nói.
“Đệ sợ nó bay.”
“Trong nhà không có gió.”
“Lúc nãy có người đi qua.”
Bảo nhìn bàn tay cậu. “Người đi qua là ta. Ta chưa đủ sức thổi bay cả tờ giấy đâu.”
Tín buông tay, cầm ấm nước rót cho mọi người. Một giọt rơi gần mép bàn, cậu lập tức lấy tay áo thấm. Người chị che bản chép, chờ mặt bàn khô rồi mới đặt lại.
Buổi tối, Hổ hết ca đến nghe đọc thư. Anh hỏi một câu Thanh Nghi chưa nghĩ tới: “Nếu tin rút lệnh đến chậm ở chỗ khác, có người vẫn tưởng lệnh cũ còn hiệu lực không?”
Bà Mạnh nhìn dấu ký. “Ta nên hỏi người ký đã báo cho những ai từng nhận lệnh.”
Thanh Nghi đồng ý viết. Nàng không muốn coi một tờ giấy ở làng là bằng chứng mọi người liên quan đều đã biết. Nhưng câu hỏi lần này có thể gửi ngày mai; không ai ở làng vừa nhận tin đe dọa mới. Hổ bảo ca tối vẫn theo lượt cũ, còn việc đổi cách trực thì họ có thể bàn khi tất cả người trực có mặt.
Bảo ra giếng với anh. Cô em đang nhận ca, đưa đèn và chỉ dấu bên mép ván. Hòn đá chèn vẫn ở vị trí đánh dấu. Chiếc đinh tre đã được gọt nhưng chưa đóng; ván còn ẩm ở phía dưới, bác giữ dây dặn chờ khô thêm. Bảo cúi nhìn rồi đứng dậy, không lấy đinh thử lần nữa.
“Huynh có thể về nghỉ,” cô em nói. “Tối nay tôi đã nhận.”
“Ta mang bánh cho cô.” Hắn đưa gói lá còn một chiếc. “Tín bảo nhân hơi ít đậu.”
“Đệ không nói thế,” Tín gọi từ sân. “Đệ nói huynh chia một chiếc thành quá nhiều phần.”
Hổ cười, bẻ bánh làm ba. Cô em nhận một miếng, để hai người kia ăn phần còn lại. Ánh đèn hắt lên tấm chắn, khiến vệt nước cũ trên gỗ hiện rõ. Hổ nói ngày mai anh sẽ mang khăn khô lau phía ngoài; cô em nhắc đừng dịch dây khi lau. Anh gật đầu.
Về đến bếp, Bảo thấy Thanh Nghi đang viết thư. Nàng đã hỏi người ký lệnh sẽ thông báo việc rút lệnh cho những ai từng nhận chỉ thị, và có thể cho biết khi việc thông báo hoàn tất không. Bên dưới, nàng viết thêm một dòng riêng: ngày ấy nàng vẫn nhớ bài học buộc kiếm, nhưng điều nàng cần lúc này là được nghe và được tự quyết.
Bảo không đọc phần riêng. Nàng tự nói với hắn sau khi gấp giấy.
“Ta không biết ông có trả lời không.”
“Cô vẫn muốn gửi?”
“Ừ.”
Hắn lấy một mảnh vải khô để bọc thư. Trong góc bếp, chiếc nồi của hắn nằm yên. Tờ lệnh đã rút, nhưng họ vẫn còn một lá thư cần gửi, một chiếc ván cần đợi khô, và những người trong làng cần tự quyết cách tiếp tục công việc ở giếng.
Tín thò đầu qua cửa. “Ngày mai ai ra trạm?”
“Đệ muốn đi không?” Thanh Nghi hỏi.
Cậu suy nghĩ. “Nếu có bánh mới thì muốn.”
Bảo nhấc nắp nồi cơm. “Còn một ít. Làm cơm nắm được không?”
Tín bước hẳn vào bếp. “Được. Nhưng lần này huynh phải tự gói phần của huynh.”
Thanh Nghi đặt lá thư lên kệ cao, tránh chỗ dột. Nàng kéo ghế lại gần hai người, bắt đầu nhặt đậu còn sót trong rổ. Ngoài sân, tiếng cô em gọi giờ nhận ca vang lên rõ ràng; Hổ đáp lại trước khi đi về.