Chương 203: Trang Sổ Bị Ướt
Cuốn sổ được gói trong một mảnh vải dầu đã bạc màu. Người giữ đường đặt nó lên chiếc bàn dưới mái, tháo từng nút dây, để lộ hai tấm bìa cong và xấp giấy vàng ố.
“Ta tìm được ở đáy rương,” ông nói. “Mặt dưới ẩm, nhưng không dính vào gỗ.”
Tạ Tiểu Bảo kéo ghế cho Thanh Nghi. Sáng nay hai người đến cùng ông Từ; cả ba đã ăn ở chân núi trước khi đi. Bảo mua thêm một chiếc bánh để dành, trả bằng tiền của mình. Hắn định ăn sau khi đọc sổ, nhưng tới nơi đã ngửi thấy mùi khoai luộc từ nhà bà chủ vườn.
Người giữ đường nói bà và cháu đang ra ruộng, để lại bình nước trên bàn cho khách. Ông rót nước vào ba chiếc bát sạch. Bảo hỏi ông có phần không, ông chỉ bình thứ hai đặt cạnh chân ghế.
Thanh Nghi đợi giấy hết cong mới nhẹ tay mở trang đầu. Mực nhòe thành những vệt nâu, chỉ còn vài số nằm ở góc. Bảo định dùng ngón tay giữ mép giấy, nàng đưa cho hắn một viên chặn nhỏ rồi bảo đặt lên phần bìa. Hắn làm theo, chừa trang giấy nguyên vẹn.
Qua ba trang ẩm là một bảng chi tiêu. Có tên gạo, củi, muối và số tiền mua từng thứ. Một trang khác ghi ngày thay mái, tên người làm và tiền công. Cuốn sổ vốn được dùng để tính việc ở trạm; những trang này không ghi tên người ở sân đá.
Tới gần giữa sổ, Thanh Nghi dừng tay.
Trên trang bên trái là hình một cái bệ nhìn từ trên xuống. Giữa bệ có một vòng tròn lớn, xung quanh là những vạch ngắn. Một vết nước ăn qua góc giấy, làm mất một đoạn hình. Bên phải là các cột số và chữ viết chen giữa hai dòng kẻ.
“Đây là trang ta nhớ,” người giữ đường nói. “Lúc trẻ ta nhìn hình mà tưởng bản vẽ sửa bếp. Chữ khi ấy đã mờ rồi.”
Bảo cúi xuống, nhìn vòng tròn. Hắn không rút số đo nồi ra so. Hình vẽ không có thước; vòng tròn ấy có thể lớn bằng chiếc nồi hay cả một gian nhà.
Thanh Nghi đọc dòng đầu: “Bếp… sân phía tây.” Nàng ngừng lại ở một chữ bị nhòe, rồi chỉ cho ông Từ xem. Ông nhận ra nét cuối giống chữ “trên”, nhưng không dám chắc. Người giữ đường nói sân đá ở phía tây của trạm, còn sườn núi cũng có một bếp nhỏ của người đốn củi, nay đã đổ.
“Ghi cả hai nơi có thể,” Thanh Nghi nói.
Bảo lấy giấy ra, chép nguyên những chữ đọc được, để trống phần nhòe. Hắn vẽ lại hình, chừa góc giấy mất nét bằng một đường đứt. Ông Từ đọc các số ở cột bên phải; Bảo viết từng số và đánh dấu dòng tương ứng.
Một cột ghi số gạo mang vào. Một cột ghi số bát đã múc. Ở dòng cuối có hai chữ “phần sau”, bên cạnh là một số nhỏ hơn những dòng trên. Bảo hỏi nó nghĩa là gì.
Người giữ đường lắc đầu. “Ta chỉ biết hồi trạm còn đông, người về muộn thường ăn sau. Không biết dòng ấy tính đúng những người đó hay tính phần để lại qua đêm.”
Bảo nhìn lại cột số. Hắn cộng những hàng chưa bị nhòe, rồi viết kết quả ở giấy nháp. Kết quả lớn hơn số tổng còn nhìn thấy ở cuối trang. Hắn tính lại, vẫn lớn hơn.
“Ta cộng sai sao?”
Thanh Nghi xem phép tính. Nàng chỉ một vệt mực ở đầu dòng: số Bảo đọc là ba có thể là tám, nhưng đổi thành tám thì kết quả còn lớn hơn. Ông Từ xem tiếp, phát hiện một dấu nhỏ trước hai hàng, cùng dạng với dấu ở trang chi tiền bên trên.
“Ở trang mua củi, dấu ấy đặt trước số đã trả lại,” ông nói. “Có thể hai hàng này cũng là phần trả về, không phải phần múc thêm.”
Bảo trừ hai số ấy đi. Lần này kết quả bằng số tổng đọc được. Hắn thở ra, rồi khựng lại. Một hàng ở giữa trang đã mất nửa số. Hắn vừa tự chọn nửa còn lại thành một con số để phép tính khớp.
“Con điền số này rồi,” hắn nói, chỉ mảnh giấy nháp. “Nhưng trong sổ không còn đủ nét.”
Ông Từ gật đầu. “Phép tính khớp chỉ cho thấy số ấy có thể đúng. Chưa biết người ghi đã tính những gì khác.”
Bảo gạch số mình vừa đoán, viết bên cạnh: “thiếu nét”. Hắn giữ tờ nháp lại để sau này còn biết mình đã thử cách nào.
Người giữ đường lật sang mặt sau. Một mảnh giấy mỏng được khâu vào gáy, mép đã tách. Trên đó có hàng chữ nhỏ, không ngay ngắn như bảng số: “Bếp nhận vào một nồi, chia ra từng phần; người tới sau nhận theo sổ.”
Không ai nói ngay. Ngoài mái, nước còn đọng trên lá rơi xuống nền đất. Bảo đọc lại từng chữ, mắt dừng ở chữ “nồi”.
“Cái nồi của con?” hắn hỏi.
“Trang này không ghi tên nồi,” Thanh Nghi đáp. “Cũng không nói đây là chiếc duy nhất.”
Bảo biết nàng nói đúng. Nhưng lần đầu tiên hắn thấy bếp, nồi và việc chia phần nằm trên cùng một trang giấy, không phải trong lời kể rời rạc của nhiều người. Hắn chép câu ấy cẩn thận, rồi đặt bút xuống để nàng đối từng chữ.
Ông Từ hỏi người giữ đường có nhớ mảnh giấy được khâu vào từ khi nào không. Ông nói khi ông nhận kho đã thấy nó ở đó; sổ thuộc đời người giữ trạm trước. Ông không biết ai viết thêm. Trên góc mảnh giấy có một dấu mực tròn đã lem, không nhận rõ hình.
“Ta có thể hỏi người giữ sổ cũ của hội xem họ từng thấy câu này chưa,” ông Từ nói. “Nếu ông đồng ý cho ta mang bản chép.”
“Bản chép thì được. Sổ ở lại đây.”
Bảo hỏi người giữ đường còn dùng cuốn sổ vào việc gì không. Ông nói không dùng để tính tiền nữa, nhưng muốn giữ lại vì trong đó có tên người sửa mái và những khoản trạm từng nợ. Ông chưa biết tất cả các khoản đã trả hay chưa.
Gần trưa, bà chủ vườn trở về. Bà đặt rổ rau xuống, hỏi đoạn bờ mới đắp đã có ai giẫm lên không. Cậu cháu chạy ra xem, báo mặt đất vẫn nguyên, chỉ có dấu chân ở lối ngoài. Bà nghe họ đọc câu trong sổ, xin nhìn hình bếp rồi bảo dưới chân núi có người từng kể chuyện nấu một nồi cháo lớn cho khách qua đường. Bà không biết chuyện ấy có liên quan tới trang giấy hay không.
Bà mang khoai luộc ra, bảo mỗi người lấy một củ. Bảo lấy chiếc bánh trong túi, bẻ đôi đưa cậu cháu. Cậu hỏi bà trước; bà bảo cậu nhận nếu Bảo đã giữ đủ phần của mình. Bảo đặt nửa bánh còn lại cạnh bát nước, nói hắn có khoai và đã ăn sáng. Cậu cầm bánh, chia tiếp cho bà một miếng.
Ăn xong, Thanh Nghi chép thêm danh sách các cột và những chỗ mất chữ. Người giữ đường nhờ ông Từ tìm một hộp khô vừa cuốn sổ; ông sẽ trả tiền nếu phải mua. Ông Từ hẹn hỏi giá trước, không mang sổ đi.
Bảo xin thêm một bản chép câu về bếp. Hắn định đưa Hứa Đồng xem cùng bản ghi chuyến trước. Người giữ đường bảo được, nhưng muốn dòng cuối ghi rõ cuốn sổ đang ở kho trạm và phần chữ mờ chưa được xác nhận. Bảo viết đúng lời ấy, đọc lại cho ông nghe.
Trên đường về, Thanh Nghi nói nàng vẫn băn khoăn dấu trước hai hàng số. Ở trang mua củi, dấu ấy có thể chỉ đồ trả lại, nhưng cũng có thể chỉ thứ chuyển sang ngày khác. Bảo giữ cả hai cách trong tờ nháp. Hắn muốn hiểu trang sổ trước khi hỏi nó về chiếc nồi của mình.
Về ngoại viện, Hứa Đồng đọc bản chép, hỏi ai giữ bản gốc. Bảo nói tên người giữ đường và nơi ông cất, rồi trình thêm hình vẽ và phép cộng đã gạch. Hứa Đồng không cười chỗ hắn điền số; ông chỉ bảo từ nay đánh dấu số ước tính ngay khi viết, để người đọc sau không nhầm nó với số trong sổ.
Hổ tới lúc Bảo đang thu giấy. Người coi khu nuôi nhờ hắn chuyển tin: thợ xem bản lề rồi, chỉ cần siết lại đinh, không phải tháo cửa. Ô Kê vẫn ở ngăn cũ, người coi đã kiểm sau khi thợ làm xong.
“Ngươi có tới xem không?” Hổ hỏi.
“Có. Để ta cất giấy trước.”
Hắn xếp bản chép vào túi, tờ phép tính đặt riêng bên ngoài. Hai người đi xem cửa rồi cùng ăn cơm tối. Bảo kể chuyện củ khoai và nửa chiếc bánh, Hổ nghe đến chỗ “một nồi chia từng phần” thì nhìn xuống bát canh của mình, múc cho Bảo thêm một thìa.
Bảo nhận, hỏi Hổ có còn đủ không. Hổ nghiêng bát cho hắn xem phần canh ở đáy. Hai người ăn hết, trả bát về bếp.
Đêm ấy, trên bàn của Bảo có một tờ giấy ghi câu về bếp, một tờ khác ghi những số bị gạch. Hắn dùng chiếc chặn gỗ đặt lên cả hai.