Chương 349: Chốt Dưới
Sáng hôm sau, ông Cẩn trở lại mà không mang túi đục đá.
Ông chỉ xách một chiếc giỏ nhỏ. Bên trong có giẻ sạch, dầu, hai cái nêm gỗ và một mảnh giấy gấp tư. Tạ Tiểu Bảo đón ông ở hàng rào nhà bà Mạnh, ngó vào giỏ rồi hỏi:
“Hôm nay ông không sửa giếng ạ?”
“Ta tới xem cái chốt ở từ đường. Ông Diệp nhớ thêm một chuyện.”
Ông Cẩn mở mảnh giấy. Người từng phụ sửa giếng với cha ông không nhớ lối dẫn dưới sân đi tới đâu, nhưng nhớ một lần được nhờ sửa cánh cửa thấp ở gian sau từ đường. Khi ấy người giữ chìa chỉ cho họ tháo cái chốt bị lệch, không nhấc tấm chắn khỏi khung. Ông Diệp còn nhớ có một tay nắm ở phía trong, nhưng không biết phía sau dùng làm gì.
“Ông ấy nhớ ai giữ chìa không?” Bảo hỏi.
“Ông nói một người phụ nữ lớn tuổi. Tên thì không chắc.” Ông Cẩn nhìn vào nhà. “Ta không hỏi ông ấy đoán đó có phải bà Mạnh hay không.”
Bảo mời ông ngồi. Dư An nghe câu chuyện, hỏi ông Diệp đã nói ngày sửa cửa chưa. Ông Cẩn đáp không nhớ, chỉ biết sau lần sửa rãnh một quãng. Thanh Nghi đưa bản chép dòng *người giữ chìa: Mạnh* cho ông xem; ông đọc rồi đặt cạnh giấy của mình.
“Nếu cái chốt ta thấy hôm qua đúng là chốt ông Diệp từng sửa,” ông nói, “ta có thể kiểm tra xem nó còn giữ như thế nào. Nhưng chưa nên nhấc tấm chắn khi chưa biết phía sau.”
“Trong sổ viết mở chốt dưới trước,” Bảo nói. “Còn có câu không nhấc khi gió mạnh.”
“Ta nhớ. Hôm nay gió ngoài sân nhẹ hơn, nhưng chưa biết trong khe ra sao.”
Hổ chuẩn bị bình nước và một chiếc đèn nhỏ. Thanh Nghi mang theo bản chép cùng chiếc gương. Dư An ở lại với bà Mạnh. Bảo tới cạnh bà, nhìn chiếc bánh bà đã đặt xuống; hai bàn tay vẫn đang hướng về phần bột. Hắn nói mình đi từ đường cùng ông Cẩn và sẽ trở về trước tối.
Ô Kê gõ vào nan khi cả nhóm qua hiên. Bảo đặt nước mới cho nó. Hắn còn định lấy thêm thóc nhưng thấy máng vẫn đủ, đành rút tay. Con gà nhìn hắn, rồi lại nhìn đường qua giếng.
Lần này ông Cẩn đi cùng họ tới từ đường, không cần ông Thuận chỉ lối. Ông chào người phụ nữ cầm chổi ở bậc hiên, rồi nhìn người đàn ông giữ tập giấy trong gian chính. Tập giấy đã lộ thêm một phần mép, nhưng dòng dưới chữ *giếng làng* vẫn bị bàn tay che. Bảo kể họ tới xem chốt; không ai đáp, song hắn vẫn nói hết.
Hổ lấy chìa sau cột hiên, mở cửa gian sau. Quyển sổ còn trên bàn, bức tường thấp và tấm gỗ ở vị trí cũ. Ông Cẩn đặt giỏ xuống, mở ô cửa cao một khoảng như hôm trước. Dải vải đặt gần khe dưới tấm gỗ lay nhẹ.
“Gió không mạnh như hôm qua,” ông nói. “Nhưng ta không biết nó có đổi bất ngờ không.”
Ông lấy một đầu dây buộc dải vải vào chân ghế, để cả nhóm thấy nó từ chỗ đứng. Sau đó ông ngồi xuống bên chốt. Thanh gỗ ngang phía ngoài đã cũ, nhưng vẫn giữ tấm chắn sát khung. Cái chốt nhỏ nằm gần nền, một đầu bị bụi lấp.
“Ông Diệp nói lúc ấy chốt lệch vì gỗ nở. Ta xem xem có phải như vậy không.”
Ông dùng que gỗ nhấc phần bụi rời quanh chốt, không cạy vào khe giữa tấm chắn và tường. Một lỗ nhỏ hiện ra ở đầu chốt. Ông thấm ít dầu lên giẻ, lau phần kim loại bên ngoài rồi chờ. Bảo muốn giúp, được giao giữ đèn cách xa giấy và vải.
“Cháu run tay thì đặt đèn xuống,” ông Cẩn nói.
“Con không run.”
Ngọn lửa vừa lúc ấy nghiêng sang một bên. Hổ kê một viên gạch thấp để Bảo đặt đèn. Hắn làm theo, không cãi. Từ chỗ ấy đèn soi được chốt, còn hai tay hắn rảnh để giữ giấy khi Thanh Nghi ghi lại những gì người thợ làm.
Ông Cẩn dùng hai ngón tay thử xoay đầu chốt. Nó không động. Ông lấy nêm gỗ mỏng đỡ thanh ngang, thử lại. Lần này chốt nhích một ít, phát ra tiếng cọ nhẹ.
Bảo cúi xuống. “Nó mở rồi?”
“Mới nhích. Nếu giật mạnh, thanh này có thể bật ra.”
Ông tiếp tục xoay từng chút. Dải vải buộc ở chân ghế vẫn lay, không mạnh hơn. Hổ ngồi ở phía cửa, quan sát hai thanh ngang và tấm chắn. Thanh Nghi giữ sổ, ghi lần lượt vị trí cái nêm, hướng xoay và vị trí chốt trước khi động tới.
Một lúc sau, cái chốt rời khỏi lỗ giữ thanh dưới. Thanh gỗ nhích ra một chút nhưng vẫn được ông Cẩn đỡ. Ông đặt chốt lên mảnh vải, đánh dấu chiều trước sau, rồi bảo Hổ giữ thanh ngang.
“Không nhấc tấm chắn,” ông nói. “Ta thử nhìn qua khe dưới.”
Ông Cẩn kéo thanh ngang ra vừa đủ cho tấm gỗ không còn bị ép sát ở mép dưới. Tấm chắn nghiêng một chút, để lộ khe tối rộng hơn ngón tay. Một luồng khí mát lướt qua tay Bảo. Hắn ngửi thấy mùi đất cũ và một chút mùi khô khó gọi tên.
“Nó đi từ trong ra,” hắn nói.
“Ta cũng cảm thấy.” Ông Cẩn đưa dải vải tới. Lần này vải bị đẩy ra khỏi khe rõ hơn. Ông nhìn lên ô cửa cao. “Có luồng khí qua đây. Nguồn ở đâu, ta chưa biết.”
Thanh Nghi đưa chiếc gương nhỏ. Ông Cẩn đặt gương ngoài khe, Bảo giữ đèn để ánh sáng chiếu lên mặt gương. Vệt sáng lọt vào trong, dừng trên một bề mặt màu xám. Ông nghiêng gương thêm chút, để lộ cạnh một bậc đá thấp và khoảng tối kéo sâu xuống.
“Có bậc,” Bảo nói.
“Ta thấy một bậc. Chưa biết bên dưới có mấy bậc.” Ông Cẩn không đưa tay qua khe. “Đây là một khoảng ở phía sau tấm chắn, không phải chỉ là khe giữa tường.”
Bảo muốn nhìn lần nữa. Hắn đổi chỗ với người thợ, giữ mắt ngang mép khe. Ánh sáng run nhẹ nhưng hắn vẫn thấy cạnh bậc đá, trên mặt có một lớp bụi mỏng. Ở phía xa hơn, một đường đen lướt qua mặt tường rồi mất trong tối. Hắn không thể biết đường ấy là dấu khắc hay thứ bám trên đá.
“Nếu mở thêm, con có thể xuống không?”
Ông Cẩn nhìn hắn. “Ta chưa biết tấm chắn giữ bởi những gì ngoài hai thanh này, và chưa biết bậc đá có chắc không. Hôm nay ta chỉ mở được chốt dưới và nhìn qua khe.”
Bảo siết hai bàn tay. Cả những ngày qua, hắn đã nhìn qua khe đá ở giếng, nhìn khoảng giấy lộ dưới tay lão Kỷ, nhìn mép gàu so với vết sứt. Bây giờ lại có một cái khe khác, phía sau là bậc đá. Hắn mệt vì cứ phải đứng ngoài.
“Bà Mạnh đang ở nhà,” hắn nói. “Nếu phía dưới có thứ giúp bà, chúng ta còn đợi tới bao giờ?”
Không ai trả lời ngay. Hổ vẫn giữ thanh gỗ; một bàn tay anh đã tì lâu tới mức các ngón hơi đỏ. Anh nhìn Bảo.
“Ta cũng muốn biết. Nhưng nếu kéo đổ tấm chắn lên người, chúng ta sẽ phải lo thêm một người bị thương. Để ông Cẩn xem xong phần ông biết đã.”
Bảo quay đi. Hắn không muốn nghe câu ấy, nhưng nhìn bàn tay Hổ, hắn biết anh cũng đang giữ thứ có thể bật ra. Hắn đưa bình nước cho anh, đợi anh uống bằng tay còn lại.
Ông Cẩn không giục. Ông kiểm hai đầu thanh ngang, nhìn cách tấm chắn nằm trong khung. Phía trên có một chốt khác, còn nguyên. Ông nói lần sau cần xem chốt trên, chuẩn bị chỗ đỡ tấm gỗ và có thêm ánh sáng trước khi quyết định mở rộng. Ông cũng muốn biết gió có thay đổi theo giờ hay không.
“Ta có thể tới với ông Thuận vào sáng mai,” ông nói. “Nếu có người ở lại quan sát được hôm nay thì ghi lại lúc gió mạnh, lúc gió yếu. Ta không hứa ngày mai sẽ mở hết; ta hứa xem cùng các vị.”
Lời hứa nhỏ hơn điều Bảo muốn, nhưng là một lời hứa ông Cẩn có thể tự thực hiện. Hắn gật đầu. Thanh Nghi vẽ bậc đá đã thấy, để trống khoảng tối phía dưới. Hổ giữ tấm chắn trong lúc ông Cẩn đưa thanh ngang và chốt dưới về vị trí cũ. Chốt giờ xoay được; ông không tra thêm dầu, chỉ lau phần thừa và thử một lần để chắc nó giữ.
Họ đóng ô cửa cao, để gian phòng như lúc tới. Quyển sổ không được mở hôm nay. Hổ khóa cửa sau, treo chìa lại sau cột hiên. Bảo báo với hai người ở từ đường rằng họ đã kiểm chốt, nhìn thấy một bậc đá và đặt tấm chắn lại.
Ra tới sân, hắn nhìn về phía giếng. Từ đây không thể thấy miệng rãnh đã soi hôm trước. Một bậc đá ở gian sau không tự chứng minh nó dẫn tới giếng, nhưng đó là con đường đầu tiên cả nhóm nhìn thấy phía sau tấm chắn.
Ông Cẩn ngồi lại uống nước, hỏi Bảo có nhớ từng xuống gian này không. Hắn lắc đầu. Hắn từng đứng ở sân và nghe người lớn dặn đừng chạy, chưa từng biết sau tấm gỗ có bậc đá. Ông Cẩn nói hồi trẻ ông chỉ sửa rãnh, không đi cùng cha tới từ đường lần ông Diệp kể; hôm nay cũng là lần đầu ông thấy phía sau tấm chắn.
Họ quay về nhà bà Mạnh khi mặt trời đã xuống thấp. Dư An nghe toàn bộ câu chuyện, hỏi hướng luồng khí và việc họ đã đặt chốt lại thế nào. Thanh Nghi đưa ông bản vẽ. Hổ nói sẽ trở lại từ đường trước tối để quan sát dải vải; nhóm đã tháo dây và mang vải về, nên anh sẽ đặt lại một dải khác ở khe ngoài mà không mở chốt.
Bảo ngồi cạnh bà Mạnh. Chiếc bánh vẫn nằm trên bàn; tay bà hướng về phần bột đậy khăn. Hắn kể mình đã nhìn thấy một bậc đá sau tấm chắn, kể cả lúc hắn nóng lòng muốn xuống và Hổ phải giữ thanh gỗ.
“Con không xuống hôm nay,” hắn nói. “Ngày mai ông Cẩn tới xem tiếp. Con muốn tìm xem bậc ấy dẫn tới đâu.”
Ô Kê gõ vào nan lồng. Bảo ra hiên, đặt tay lên cửa lồng. Con gà đứng sát phía nhìn ra đường, không rời mắt khỏi hắn. Hắn thay nước rồi ngồi xuống.
“Có một bậc đá,” hắn kể. “Ta không biết nó có tới giếng không.”
Ô Kê cúi mổ một hạt thóc, rồi dùng mỏ chạm vào đầu dây cửa. Bảo giữ dây lại. “Ngày mai nếu mọi người đi xem tiếp, ta sẽ bàn cách đưa ngươi theo. Nhưng ta không để ngươi tự mở lồng trên lưng Xám nữa.”
Trước bữa tối, Hổ từ từ đường trở về. Anh đã đặt dải vải gần mép tấm chắn mà không mở chốt; khi anh rời đi, nó lay nhẹ. Anh ghi giờ và để hôm sau so lại. Bảo cất bản vẽ bậc đá cạnh hình rãnh giếng, không nối hai đường trên giấy.
Nhưng tối ấy, khi nghe gió lùa qua hàng rào, hắn không chỉ nghĩ tới miệng giếng. Sau tấm gỗ thấp ở từ đường đã có một bậc đá, và sáng mai có người sẽ cùng hắn tìm xem phía dưới còn gì.