Chương 447: Phần Còn Lại Trên Bàn
Mộc mở bọc vải trước khi cơm chín.
Bên trong có mười tám đồng tiền xếp thành hai chồng, một chồng mười và một chồng tám. Ông đẩy cả bọc đến trước mặt Bảo.
“Tiền công ngươi đòi lần trước.”
Bảo đếm hai lượt. Hắn cố làm vẻ bình thản, nhưng tới đồng cuối cùng vẫn nhấc lên xem dưới ánh cửa.
“Đủ rồi.”
“Ngươi có thể đếm lần thứ ba.”
“Con tin thầy.” Hắn đặt đồng tiền xuống. “Nhưng đồng này hơi mỏng.”
Bà Mạnh đang nhặt rau, ngẩng lên. Mộc đưa tay nhận lại đồng tiền, cân thử trên lòng bàn tay. Ông lấy thêm một đồng từ túi áo, đặt cạnh nó.
“Đổi cái khác.”
Bảo nhìn hai đồng, rồi cầm đồng mới. Hắn gói tiền lại, buộc chắc miệng túi. Mười tám đồng không giải quyết được chuyện chiếc nồi hay cửa chín, nhưng là mười tám đồng hắn đã chờ từ khi còn ở tông. Hắn định nói câu cảm ơn, lại nhớ ông nợ mình khoản ấy. Cuối cùng hắn bảo: “Lát nữa con mua thêm gạo.”
Tín từ bếp vọng ra: “Gạo đủ cho bữa này rồi.”
“Để bữa khác.”
“Vậy mua thêm muối.”
Mộc nhìn qua cửa bếp. “Người trả tiền được chọn món không?”
“Được,” Tín nói. “Nhưng nếu ăn mặn quá, bà Mạnh sẽ bắt người đó thêm nước.”
Bữa cơm bày ở gian ngoài. Bà Mạnh xới cơm, Tín đặt một đĩa rau luộc và bát đậu kho lên giữa. Thanh Nghi trở lại sau khi báo người đang trực rằng Mộc đã về làng; Hổ cũng tới, mang theo chiếc ghế thấp cho khách. Ô Kê theo sau anh, vừa vào cửa đã nhảy lên bậc, nhìn chằm chằm bát đậu.
Bảo kéo bát lại. “Phần ngươi ở dưới.”
Con gà cúi xuống mổ thóc, nhưng một mắt vẫn hướng về bàn. Mộc ngồi đối diện nó. Ông nhìn bộ lông đen và cái chân đang bới thóc, lâu đến mức Bảo phải hỏi:
“Thầy từng thấy Ô Kê chưa?”
“Chưa ở gần như thế này.”
Bảo nhớ ông vừa nói từng làm việc ở cửa chín. Hắn muốn hỏi liệu ông có biết con gà là gì, nhưng bà Mạnh đã đặt bát cơm trước mặt Mộc. Bà không dùng bát sứ lành nhất trong nhà, chỉ lấy chiếc bát thường ngày vẫn để trên kệ.
“Ăn trước,” bà nói. “Cơm nguội rồi nói chuyện lâu cũng không ngon.”
Mộc cầm đũa. Ông ăn chậm, hết bát thứ nhất thì dừng. Bảo định xới thêm, ông đặt tay lên miệng bát.
“Ta còn chưa ăn hết đậu.”
Bảo rút vá về. Lúc ấy Ô Kê nhảy lên ghế bên cạnh Mộc. Bà Mạnh nhìn nó, định đuổi xuống, nhưng ông lấy một hạt cơm đặt trên mép bàn. Con gà mổ rất nhanh, không đụng vào đĩa đậu. Bảo nhìn hạt cơm biến mất.
“Thầy cho nó một lần là lần sau nó tự lấy.”
“Ta đang ăn ở nhà bà Mạnh. Nó hỏi bà ấy trước được không?”
“Cục,” Ô Kê đáp.
“Không,” bà Mạnh nói.
Tín phì cười. Con gà nhảy xuống, tiếp tục bới thóc như chưa từng nghe ai nói.
Mộc ăn thêm nửa bát. Đến khi đặt đũa, ông bảo đã no. Bảo nhìn bát cơm của mình; hắn đã ăn hơn ông mà bụng vẫn trống. Mộc không nhìn hộ hắn, chỉ đưa tay kéo bát đậu lại gần để hắn tự gắp.
Sau bữa ăn, bà Mạnh rót nước. Bảo cất tiền công vào túi riêng, rồi lấy hai bản chép Mộc mang tới. Hổ trải một tấm vải khô lên bàn. Thanh Nghi đặt bản vẽ hiện có của làng cạnh giấy của ông; bà Mạnh mời người chị nhà bác giữ dây đến vì chị đang nhận việc trông giếng chiều nay.
Mộc chỉ vào hình cửa hẹp. “Đây là lối cũ dẫn tới chỗ giữ sổ, theo trí nhớ và bản ghi của ta khi ấy. Ta đóng nó sau một lần nước trong bát xuống nhanh. Có người bảo đừng để ai vào cho tới khi tìm được nguyên nhân.”
“Ai bảo?” bà Mạnh hỏi.
“Một người cùng làm ở phòng trực. Ta nhớ mặt, không nhớ chắc tên. Lúc ấy ta nghe theo.”
Bà đặt chén xuống. “Rồi ông giao chìa cho ai?”
“Ta mang theo.”
Căn phòng im lặng. Bảo nhìn chiếc gậy dựng ở góc bàn, rồi nhìn thầy. “Không ai khác vào lấy sổ được à?”
“Lối này có khóa. Ta không biết họ có dùng được lối khác không.” Mộc đưa tay vào túi áo, lấy ra một vật dài bọc trong vải. Ông mở vải. Một chiếc chìa bằng đồng nằm trong đó, thân xỉn màu, đầu có hai răng không đều.
“Ta giữ nó. Sau đó lối về thay đổi, ta không tìm lại được. Nhưng trước lúc đi, ta đã không nói rõ chìa ở đâu.”
Bà Mạnh cầm chìa, nhìn một lúc rồi đặt lên bàn. “Ông có thể viết điều này cho những người đang trực biết không?”
“Có.”
“Đừng chỉ viết rằng đường thay đổi. Viết cả việc ông mang chìa đi.”
Mộc kéo giấy trắng về phía mình. Tay ông không run, nhưng nét chữ đầu tiên nghiêng hơn các dòng trong bản cũ. Ông viết mình đã đóng lối giữ sổ, mang chìa, chưa báo rõ cho người ở lại; nguyên nhân nước xuống khi ấy chưa xác định. Bà Mạnh đọc, nói dòng cuối đúng với điều bà nhớ: hôm đó họ chỉ biết nước hạ, không biết tại sao.
Bảo hỏi: “Bà ở đó à?”
“Ta ở gian ngoài. Ông ấy đi từ phòng trong ra, bảo chưa ai được vào. Ta tưởng chìa đã để ở chỗ người giữ sổ.”
Mộc cúi đầu. “Ta đã không nói.”
Bà Mạnh nhìn ông. “Ta mất rất lâu mới tìm được người biết chỗ để các bản chép khác. Có những ngày ta tưởng mình nhớ sai cả tên đồ đã cất.”
Ông không tìm lời giải thích. Bà đưa tờ giấy cho người chị đọc. Chị hỏi chiếc chìa còn dùng được không. Mộc đáp chưa biết; nhiều năm đã qua, cửa và ổ khóa có thể đã thay. Ông không đề nghị thử ngay.
Thanh Nghi đối vị trí cửa với bản làng đang giữ. Nàng chỉ một đoạn trên sơ đồ mới: nơi này nằm sau vách, gần chỗ trước kia Bảo thấy dấu cong dưới bệ tượng. Mộc nhìn, nói từ trí nhớ của ông thì có thể cùng phía, nhưng không thể lấy hình chép để xác định có đường đi thông. Hổ đề nghị khi người trực sẵn sàng sẽ cùng xem vách từ bên ngoài, chưa động vào khóa hay nồi. Người chị đồng ý mang đề nghị về hỏi cô em và bác giữ dây.
Bảo nhìn chiếc chìa. Hắn muốn đứng dậy đến đó ngay, nhưng nhớ lời Mộc nói chưa chắc ổ khóa còn như cũ. Hắn hỏi bà Mạnh có từng nhìn thấy lối bên trong từ lúc tỉnh không. Bà đáp chưa; việc đầu tiên là sắp người nhận ca và chăm những nhà vừa tỉnh. Những giấy tờ họ có đều lấy từ gian ngoài hoặc do người làng giữ.
“Vậy có thể sổ vẫn còn?” hắn hỏi.
“Có thể. Cũng có thể không còn,” bà nói. “Ta sẽ không hứa với con trước khi nhìn thấy.”
Bảo nhìn Mộc. “Thầy đã giữ chìa nhiều năm mà không nói với con?”
Ông đáp: “Phải.”
“Lúc con hỏi đường về, thầy bảo tìm căn cứ. Thầy có chiếc chìa mà không kể.”
“Ta sợ con tìm cách về ngay, khi ta còn chưa biết đường đã đổi đến đâu.” Mộc nhìn xuống bàn. “Và ta sợ người ở đây hỏi ta đã bỏ lại những gì.”
Bảo tưởng mình sẽ nói rất nhiều. Hắn chỉ thấy cổ họng nghẹn lại, nhớ những ngày đứng trước người làng chuyển động chậm mà không biết phải làm gì. Ông có thể đã không giải được đường về, nhưng ông đã biết một câu chuyện mà hắn phải tự mò tới.
“Con đã hỏi thầy,” hắn nói. “Con không thích phải nghe câu này muộn như vậy.”
“Ta biết.”
“Thầy không biết. Bây giờ con vừa nói.”
Mộc nhìn hắn, rồi gật đầu. “Ừ. Bây giờ ta nghe.”
Bà Mạnh không chen vào. Bà lấy một tờ khác ghi ngày nhận chìa, để người đang trực biết vật được đặt ở nhà bà. Mộc ký dưới lời kể của mình. Ông đề nghị giao chìa cho bà; bà nhận và hỏi người chị sẽ báo với cô em thế nào. Chị nói sẽ kể đúng những gì đã nghe, mang bản chép nếu bà cho phép. Bà đồng ý.
Chiều xuống, Tín mang nước nóng đến. Mộc xoa đầu gối, nói muốn nằm một lát. Bà Mạnh dọn chiếc giường gần cửa sổ. Ông cầm gói giấy theo, nhưng để chìa lại trên bàn. Bảo đứng ở cửa, thấy thầy đặt hai bản chép dưới gối rồi kéo chăn lên ngang bụng.
“Thầy còn nửa chiếc bánh,” hắn nói.
“Để phần ngươi. Ta đã no.”
Bảo không lấy ngay. Hắn khép cửa bớt gió, trở ra gian ngoài. Ô Kê đang đứng bên ghế của Mộc, mổ vào mép vải đã bọc chiếc chìa. Hắn nhấc nó xuống, đưa cho một nắm thóc.
Trên bàn, chiếc chìa nằm cạnh tờ giấy mới ký. Bà Mạnh gấp vải quanh nó, nhưng để phần hai răng lộ ra để người trực đến sau nhận được hình dáng. Bảo ngồi xuống, mở túi đếm lại mười tám đồng, rồi cất đi.