Chương 273: Người Giữ Nhà Nghỉ
Hổ cắm cây gậy xuống đất, nhưng không ai bảo sẽ ngủ ngay trên bãi.
Phía sau họ, căn nhà người đan giỏ vẫn còn thấy ánh đèn. Trước mặt, con đường xuống ruộng tối dần, nước đọng phản chiếu một vệt trời. Tạ Tiểu Bảo nhìn mái nhà sau hàng tre, nghe tiếng Ô Kê cựa trong lồng.
“Con đi bộ xuống hỏi một lát được không?” hắn nói.
Thanh Nghi nhìn đường. “Đi một mình thì không. Ta đi cùng ngươi, Hổ và Dư An giữ Xám ở đây. Nếu chưa thấy lối chắc, chúng ta quay lại trước khi tối hẳn.”
Họ đặt gói nồi và vung bên cạnh Hổ, cầm đèn nhỏ đi xuống. Bảo bước trước, dùng gậy thử chỗ đất. Dấu chân người vừa đi còn mới ở mép trong; giữa đường, bùn bám vào đế giày, kéo mỗi bước nặng hơn.
Đến một chỗ lõm có nước, Thanh Nghi kéo tay hắn lại. Một tấm ván hẹp bắc ngang chỗ lõm nhưng một đầu đã lún. Nàng thử ấn bằng gậy, tấm ván không gãy, song lắc sang bên. Hai người không bước lên. Bảo gọi về phía mái nhà:
“Có ai ở nhà không?”
Một người đàn bà bước ra sau hàng tre. Bà che mắt nhìn, hỏi họ đi đâu. Thanh Nghi nói tên nhà nghỉ và chỉ đường ướt. Bà đáp đúng là nhà mình, bảo họ đứng yên để bà mang đèn tới.
Bà đi bằng lối khác, qua một bờ đất thấp gần ruộng. Bà bảo người trong xóm đã đặt ván nhưng nước làm một đầu lún xuống; sáng mai có thể kê lại. Lối bờ ruộng bà vừa đi dành cho người, không nên dắt la khi trời tối. Bảo hỏi có chỗ cho cả nhóm và con la nghỉ không. Bà nói nhà còn một gian nhỏ, nhưng muốn đưa la tới cần xem nền quanh chuồng; bà sẽ cùng họ lên bãi đất cao trước.
Hổ và Dư An nghe bà nói, không dắt Xám xuống ngay. Người đàn bà cầm đèn soi lối. Bà chỉ một vòng đất cao hơn, đi xa hơn nhưng không qua tấm ván. Bà đã dùng lối ấy đưa một con lừa lên sáng nay; tuy vậy bà bảo đoạn cuối có rễ cây nhô, phải tháo lồng và sọt nếu không đủ khoảng.
Họ cùng đi. Bảo dẫn Xám, Hổ xách lồng Ô Kê, Thanh Nghi và Dư An mang các gói đã tháo. Tới chỗ rễ cây, con la bước qua không tải; chiếc lồng phải nghiêng nhẹ để lọt, Hổ dừng đợi Ô Kê đứng vững rồi mới đi tiếp. Bảo theo lời bà, không kéo dây gấp.
Nhà nghỉ có sân nhỏ, một mái phụ và chiếc bếp đang cháy. Người đàn bà chỉ nền chuồng khô phía trong, để Xám uống nước trước khi buộc. Bà đưa giá chỗ nghỉ, thức ăn cho la và bữa cơm; họ bàn với nhau rồi chọn nghỉ một đêm. Bảo trả phần cho Xám bằng tiền của mình, những khoản chung được chia như ở bến.
Khi mọi thứ đã đặt xuống, hắn lấy mảnh giấy người bán muối cho chép. “Cháu tìm bà Mạnh ở Lạc Kê. Có người đã nhận thư để mang qua bãi đá. Bà có biết ông ấy không?”
Người đàn bà đọc tên người nhận hàng, rồi chỉ ngày trong giấy. Bà nhớ hôm ấy ông mang hàng tới đây, nhờ một người đi qua bãi đưa thư vào làng. Người ấy là ông Lâm, thường gánh đồ cho các nhà bên kia. Bà biết tên vì ông vẫn ghé nghỉ, nhưng không ở cùng nhà.
“Ông Lâm có quay lại không ạ?”
“Có, hai hôm trước.” Bà mở chiếc hòm cạnh bàn, lấy ra một mảnh giấy gấp. “Ông bảo đã đưa thư cho một người ở đầu làng nhờ chuyển đến bà Mạnh. Ông chưa gặp bà ấy. Mảnh này ông để lại, nói nếu người gửi đến thì đưa.”
Bảo nhận giấy. Nét chữ không giống chữ hắn, chỉ có vài dòng: “Đã đưa thư nhờ chuyển vào nhà bà Mạnh. Chưa gặp bà. Người nhận nói sẽ chuyển.” Bên dưới là tên ông Lâm và ngày. Không có lời hồi âm.
“Người ở đầu làng tên gì?” hắn hỏi.
“Ông Lâm nói là người gánh nước, ta có ghi tên ở đây.” Bà chỉ một chữ hơi nhòe; Bảo đọc được phần lớn, nhưng không chắc chữ cuối. Hắn không nhận đó là người quen trong làng chỉ vì cái tên nghe gần giống. Bà nói ông Lâm có thể trở lại theo chuyến hàng tới, chưa biết ngày.
Thanh Nghi hỏi có được chép mảnh giấy không. Bà bảo Bảo có thể giữ luôn; ông Lâm để lại cho người gửi. Hắn cầm mảnh giấy bằng hai tay. Lá thư đã đi xa hơn nhà nghỉ, và có người ở đầu làng nhận chuyển. Bà Mạnh có thể đã nhận, cũng có thể chưa. Hắn không thể hỏi bà ngay tối nay.
“Bãi đá bây giờ qua được không?” Hổ hỏi.
“Nước thấp vào buổi sáng thường dễ nhìn đá hơn, nhưng sau mưa nước đổi nhanh. Hôm nay ta không qua.” Bà chỉ ra phía hàng tre. “Người sửa cây cầu nhỏ ở lối trạm có ghé đây. Cầu chưa xong. Đường xuống từ ruộng các vị vừa đi là lối vòng; muốn tiếp tục qua bãi thì nên hỏi người vừa sang trong ngày.”
Dư An hỏi chỗ lấy nước sạch và nơi có thể cho Xám nghỉ. Bà chỉ giếng phía sau, nói nước phải kéo bằng gàu, đồng thời nhắc trong sân có nền trơn sau mưa. Ông hỏi bà có ai cần thuốc hay chăm sóc không; bà nói nhà có một người bị trầy tay khi chuyển củi, đã rửa và băng, không yêu cầu ông xem lúc này.
Bảo đưa mảnh giấy của ông Lâm cho mọi người đọc. Hổ hỏi chữ tên người nhận có giống tên ai Bảo nhớ không. Hắn nhìn, rồi lắc đầu:
“Con nhớ một người gánh nước, nhưng không chắc là người này.”
“Không sao,” Hổ nói. “Đến nơi hỏi tiếp.”
Chủ nhà đưa cơm và canh rau ra. Bảo ăn một bát, xin thêm nửa bát sau khi thấy mọi người đã nhận phần. Hổ hỏi có món gì để thêm vào canh không; bà đưa đĩa muối, chỉ cho một ít cá khô có thể mua thêm. Anh hỏi giá rồi mua một phần, chia cả bàn. Dư An uống nước nóng, Thanh Nghi hỏi bà chủ có biết người nào sẽ qua bãi vào sáng mai.
“Có một người định gánh hàng sớm, nhưng còn xem nước. Ta có thể nhắn các vị hỏi khi ông ấy tới.”
Bảo muốn ra bãi đá xem ngay. Bà chỉ cửa: trời đã tối, đường tới bờ có đoạn trơn. Hắn nghe tiếng nước từ xa, không thấy mặt đá. Thanh Nghi bảo sáng có thể đi cùng người biết đường đến xem, không cần dùng Xám để thử trước.
Sau bữa, họ kiểm lại gói đồ. Bản chép điểm chín vẫn khô; chiếc vung cũ không còn làm rách lớp vải sau khi đã sửa mép. Bảo để tiền đường về ở trong áo, riêng khỏi khoản phải trả nhà nghỉ. Ô Kê được đặt lồng trong sân có mái che, sau khi đã cho uống nước. Xám ăn phần cỏ mới, người chủ nhà chỉ cách đặt máng tránh chỗ nước mưa nhỏ xuống.
Hổ lấy tờ lịch của người phụ trách sân ra, đếm những ngày đã đi. Anh nói nếu sáng mai qua bãi được và tìm được đường vào làng, họ có thể vẫn còn thời gian theo dự kiến; nếu nước không cho qua, phải tìm cách gửi thêm tin. Bảo nghe, không xóa ngày dự kiến trên giấy nghỉ.
“Em cứ tưởng đến bến sẽ gặp người đã mang thư,” hắn nói.
“Chúng ta tới được nhà người ấy từng dừng,” Thanh Nghi đáp. “Bây giờ có tên để hỏi.”
“Có cả một cái tên chưa đọc rõ.”
“Thì mang giấy theo. Đừng tự sửa nó thành tên ngươi muốn thấy.”
Bảo nhìn mảnh giấy. Hắn nhớ con đường rời làng, nhớ những người gánh nước qua sân và tiếng bà Mạnh gọi hắn ăn. Chữ nhòe ấy khiến một khuôn mặt hiện ra, nhưng hắn không biết có đúng người không. Hắn đặt ngón tay lên phần giấy trắng, không chạm vào nét mực.
Trước khi ngủ, hắn hỏi chủ nhà liệu có ai đi về phía trạm cũ sáng mai không. Bà nói người gánh củi thường đi, nhưng chưa gặp hôm nay. Nếu ông tới, bà sẽ hỏi giúp việc nhận thư; nếu không, hắn cần tìm cách khác. Bảo viết thêm tin: cả nhóm đã tới nhà nghỉ, đã nghe thư được nhờ chuyển vào làng, nhưng chưa biết bà Mạnh nhận chưa.
Hắn gấp mảnh tin đặt riêng, bên cạnh giấy của ông Lâm. Ngoài mái, Xám khẽ kéo dây, làm chiếc máng gỗ chạm vào cọc. Ô Kê kêu một tiếng rồi im. Bảo kéo chăn lên, vẫn giữ tờ giấy nhòe ở trong túi áo.