Chương 476: Người Chở Chuyến Cuối
Trời chưa sáng hẳn, Bảo đã bị Ô Kê đánh thức. Nó chui đầu qua nắp giỏ, mổ vào túi thóc treo bên cạnh, làm cái giỏ lăn từ ghế xuống đất.
Bà Mạnh nghe tiếng động, bước ra bếp. Bảo đang ngồi xổm nhặt từng hạt thóc, còn thủ phạm đứng trên bậu cửa, giương cổ nhìn hắn.
“Con định mang cả chuồng gà đi à?” bà hỏi.
“Chỉ mang một con. Nhưng nó định mang phần ăn của ba con.”
Bà Mạnh đặt hai chiếc bánh gạo vào túi vải. “Một cái ăn đường, một cái để dành. Đừng đem hết ra dỗ nó.”
Bảo nhìn túi bánh, lại nhìn Ô Kê. “Nếu nó giả đói thì sao?”
“Con cứ hỏi nó xem.”
Ra tới đầu làng, bà Vân đã chờ bên xe. Thanh Nghi ngồi phía trước, giữ một cuộn vải có tờ chép của bà Mạnh và danh sách câu hỏi. Bảo đưa giỏ gà lên sau cùng. Hắn chỉ nút dây cho bà Vân, bảo kéo đầu dài thì mở được; bà thử một lần rồi gật đầu.
Xe đi qua đồng còn phủ sương. Bánh xe nghiến trên mặt đường cứng, thỉnh thoảng xóc qua ổ đá khiến Ô Kê kêu cục cục. Bảo ngồi giữ giỏ, nhìn thấy ruộng bên phải có một đoạn mương mới đắp. Nước dừng lại ở chân bờ đất, chưa chảy sang thửa bên kia.
“Chỗ ấy năm ngoái thông mà,” hắn nói.
Bà Vân không quay đầu. “Hai nhà đang sửa cống. Bên dưới thủng, nếu mở nước ngay thì trôi cả bờ. Họ hẹn chiều nay cùng đào.”
Bảo nhớ đến bát nước trong phòng trực. Cũng là chặn dòng, nhưng chặn để sửa khác với chặn rồi bỏ đi. Hắn định kể cho Thanh Nghi nghe, song nàng đã giở tờ giấy ra, lấy ngón tay che một dòng nhòe mà người sửa giấy chưa dám tách.
“Ta muốn hỏi ông ấy chuyện gì trước?” nàng nói.
“Để ông ấy kể chuyến xe trước. Nếu ta đọc hết những gì mình biết, có khi ông nghe rồi tưởng mình cũng nhớ.”
Thanh Nghi cuộn tờ giấy lại. “Được. Ta sẽ không nhắc đến nhà chợ.”
Họ tới bến khi nắng vừa lên khỏi mái nhà. Dãy quán sát nước đang mở cửa; người gánh cá tránh một chiếc xe chở củi mắc ngang lối. Bà Vân dừng ở đầu ngõ, bảo phải giao hàng bên kia bến, đến giữa chiều mới quay lại. Bảo nhắc bà nếu họ không kịp trở ra sẽ gửi lời ở quán nước đầu ngõ.
Nhà người chở hàng có giàn mướp thấp. Dưới giàn, một ông già đang ngồi sửa quai quang gánh. Ông dùng đầu gối giữ thanh tre, tay trái kéo sợi mây qua lỗ; tay phải thiếu ngón út, vết cụt đã lành từ lâu.
Nghe Thanh Nghi hỏi tên, ông ngẩng lên. “Ta là Lương. Người cùng tên ở cuối bến đã mất năm ngoái. Các cô cậu tìm người nào?”
“Chúng cháu chưa biết,” Bảo đáp. “Cháu từ Lạc Kê tới, muốn hỏi về một chuyến hàng cũ.”
Ông Lương đặt thanh tre xuống. Người con gái từ trong nhà bước ra, mời họ ngồi. Chị mang nước và nói trước rằng cha chị nhớ chuyện xa có khi rõ hơn chuyện mới, nhưng buổi sáng ông thường đau tay; nếu ông mệt thì phải nghỉ.
Bảo nhận bát nước. Hắn hỏi ông từng chở hàng từ Lạc Kê chưa.
“Có. Gạo, muối, đôi lúc cả giấy dầu. Khi còn trẻ ta đi đường ấy nhiều.” Ông Lương đưa bàn tay cụt ngón lên. “Đến lúc không buộc nổi dây hàng mới thôi.”
“Ông có nhớ chuyến nào nhận ở một trạm rồi chuyển qua bến trong không ạ?”
Ông nhíu mày. Một lúc lâu sau, ông chỉ về phía sông. “Bến trong trước kia ở chỗ rặng duối, không phải cái bến bây giờ. Đường nước đổi, người ta dời chỗ buộc thuyền. Ta có nhận hàng ở đó, nhưng chuyến nào?”
Bảo lấy giấy ra, chỉ cho ông tên người đưa và dấu năm còn đọc được. Ông nhìn rất lâu, rồi gọi con gái lấy hộp gỗ trên xà xuống. Bên trong có mấy chiếc thẻ tre, dây đã mục, mỗi thẻ đục hai lỗ.
“Ta giữ để nhớ ai còn nợ tiền xe,” ông nói. “Những món đã trả, đáng lẽ bỏ rồi. Con gái không cho bỏ.”
“Cha bảo bỏ, nhưng cứ hỏi thẻ đâu,” chị đáp.
Ông chọn một thẻ, lắc đầu, lại chọn thẻ khác. Cuối cùng ông đẩy ra một mảnh tre có khắc dấu giống chữ *cửu* bị vạch ngang. “Ta không đọc được hết chữ trên giấy của cậu. Nhưng dấu này, ta nhớ.”
Bảo không chạm ngay vào thẻ. “Vì sao ông nhớ?”
“Vì chuyến ấy ta không được trả hết tiền.”
Ông kể khi nhận hàng ở trạm, hai bao gạo được cân và buộc dây như hàng thường. Một ống tre nhỏ kẹp dưới nút dây, người giao bảo không được tháo. Đến bến trong, người giữ đường ra nhận, nhưng thuyền chở tiếp chưa tới. Người đó thuê ông chở hàng vào một căn nhà gần chợ, hẹn ba ngày sau lấy phiếu và trả nốt tiền xe.
“Ông có đi lấy không?” Thanh Nghi hỏi.
“Có. Họ đưa ta nửa tiền, bảo phần còn lại người nhận cuối sẽ trả. Ta tức quá, đòi mang gạo về.”
Con gái ông đặt tay lên mép bàn. “Cha thường kể đến đoạn đó rồi thôi.”
Ông Lương nhìn chị, môi mím lại. “Vì ta không mang về được.”
Một trong hai bao đã bị rách khi bốc xuống. Gạo đổ trên sàn, chủ nhà chợ nói sẽ gom lại. Người giữ đường đi vắng; người ở nhà chợ không chịu ký nhận đủ hai bao, chỉ ký một bao và số gạo còn nguyên trong bao thứ hai. Ông Lương đòi ghi cả phần đổ, hai bên cãi nhau đến tối. Cuối cùng ông cầm tờ giấy nhận thiếu, nhận nửa tiền rồi bỏ về.
“Ống tre đâu?” Bảo hỏi.
“Vẫn buộc vào bao nguyên. Ta thấy người trong nhà chợ đem nó vào gian sau.”
Ông Lương nhớ căn nhà có mái ngói nâu, trước cửa treo chiếc cân đồng. Chủ nhà là một người đàn bà thấp, nói giọng vùng trên. Ông không nhớ tên. Sau chuyến ấy ông còn quay lại một lần, nhưng nhà đã đổi chủ; chiếc cân không còn.
Bảo nghe đến đó, lấy chiếc bánh trong túi ra. Hắn bẻ đôi, đưa ông Lương một nửa, nửa còn lại cho con gái ông. Người con gái từ chối, bảo nhà có bánh. Nhưng ông Lương nhận, nhai chậm. Sau khi nuốt xong, ông nói nhỏ:
“Ta đã nói với người ở Lạc Kê rằng hàng giao đủ.”
Bảo ngẩng lên. Thanh Nghi đặt bút xuống.
“Họ hỏi ta đã giao chưa. Ta đáp đã giao. Ta không nói bao rách, cũng không nói giấy chỉ nhận một phần.” Ông nhìn chiếc thẻ tre. “Ta nghĩ gạo đã nằm trong nhà ấy, thế nào chẳng tới tay người nhận. Nói ra lại phải quay đi quay lại, mà tay ta khi ấy không còn như trước.”
Con gái ông kéo ghế sát hơn. “Cha chưa từng kể chuyện này.”
“Ta nợ người ta một câu nói thật, chứ không chỉ nửa tiền xe.”
Bảo thấy cổ họng khô đi. Trong trang sổ của Mộc, có những chỗ để trắng mà ông không kịp điền. Hắn từng giận những người viết một câu mơ hồ rồi để người đến sau đoán. Nhưng ông Lương đang ở trước mặt hắn, bàn tay cụt ngón đặt cạnh bát nước, và chính ông vừa nói ra điều có thể khiến mình bị trách.
“Nếu hôm ấy ông không nói hàng đã giao đủ, người ở Lạc Kê có thể đã đi tìm sớm hơn,” Bảo nói. “Nhưng cháu không biết lúc đó họ có tìm được không.”
“Ta cũng không biết.”
“Giấy nhận còn không ạ?”
Ông Lương lắc đầu. “Ta đưa cho người giữ đường khi gặp lại ở bến. Ông ấy nói sẽ đem về đối sổ. Ta đã ký vào phần dành cho người chở, nên ông ấy bảo không cần ta đi cùng.”
Thanh Nghi hỏi ông có nhớ người giữ đường tên gì. Ông đáp tên Phúc, rồi ngừng lại. “Hay là Phú? Mọi người gọi ông ấy là bác Phúc, nhưng trên giấy ta không đọc được.”
Bảo ghi cả hai khả năng, không chọn hộ ông. Thanh Nghi hỏi thêm ngày gặp, ông nhớ sau buổi giao hàng khoảng bốn hôm vì hôm đó trời mưa, con gái ông vừa sốt khỏi. Chị con gái không nhớ ngày tháng, chỉ xác nhận từng sốt một trận vào năm cha thôi đi chuyến xa.
Ông Lương muốn đưa chiếc thẻ tre cho họ. Bảo hỏi người con gái có đồng ý không. Chị nói thẻ là đồ của cha, nhưng chị xin họ chép dấu trước, vì ông có thể còn cần nhìn vật cũ để nhớ tiếp. Bảo trải giấy lên thẻ, dùng than xoa nhẹ; hai lỗ đục và nét khắc hiện ra. Ông Lương giữ thẻ, còn Bảo mang bản chép.
Trước khi họ về, ông gọi với theo: “Căn nhà có thể đã bị phá. Nhưng chiếc cân đồng không dễ mất đâu. Người sửa cân ở đầu chợ cũ từng gắn lại kim cho nó.”
Người con gái nói người sửa cân ấy là chú Điền, nay bán đồ sắt ở phía sau chợ. Chị chỉ đường và dặn đừng hỏi vào giờ trưa, vì chú thường đi đưa cơm cho vợ.
Bảo cảm ơn, nhưng khi bước ra khỏi cổng, hắn vẫn chậm lại. Thanh Nghi đi cạnh, không thúc. Một chiếc thuyền cập bến, người trên bờ chuyền giỏ cá từ tay này sang tay khác; một con cá tuột khỏi giỏ, quẫy trên nền gạch. Một đứa bé chạy tới chụp, bị mẹ gọi lùi lại để người lớn nhấc nó lên.
“Ta cứ tưởng ông ấy sẽ cho mình tên một nơi,” Bảo nói.
“Ông ấy cho chúng ta tên một người và một chiếc cân.”
“Còn cho biết có thể phần gạo ấy đã thiếu ngay từ lúc giao.”
Thanh Nghi gật đầu. “Nhưng chưa biết thiếu bao nhiêu, và tờ phiếu ông ấy đưa có tới người giữ sổ hay không.”
Hắn mở túi, lấy nửa chiếc bánh còn lại. Ô Kê thò đầu ra khỏi giỏ. Bảo vừa bẻ một mẩu, nó đã giật cả miếng, chạy vòng quanh chân hắn. Hai người đuổi theo giữa ngõ; đến khi Thanh Nghi chặn được đầu đường, hắn mới bắt lại con gà và phần bánh đã dính đất.
“Bà Mạnh đoán đúng,” nàng nói.
“Lần sau ta sẽ hỏi nó trước.”
Hắn phủi phần đất, bẻ chỗ sạch cho Ô Kê, còn mình ăn phần bánh còn nguyên. Họ tới chợ trước giờ trưa. Sạp đồ sắt đã khóa; người bán bên cạnh bảo chú Điền vừa đi, chiều mới về. Bảo nhìn mặt trời, tính thời gian. Nếu chờ, họ có thể lỡ xe bà Vân; nếu bỏ qua, chuyến này chỉ gặp được một người.
Thanh Nghi đề nghị để lại lời nhắn, rồi quay về đúng hẹn. Bảo không muốn, nhưng nhớ lượt trực tối mình đã nhận. Hai người viết lời hỏi về chiếc cân và căn nhà cũ, nhờ người bán hàng chuyển giúp, ghi địa chỉ nhà bà Mạnh để chú Điền trả lời nếu còn nhớ.
Trên đường ra bến, Bảo ngoái nhìn sạp khóa một lần. Hắn không biết người sửa cân có muốn gặp hay không. Nhưng ít nhất lần này, câu chuyện về chuyến gạo không còn chỉ nằm ở dòng chữ *chưa đối phiếu nhận*. Có một bao rách, một tờ phiếu đã rời tay người chở, và một lời nhận đủ mà chính người nói vừa sửa lại.
Bà Vân đang xếp bao hàng cuối lên xe. Bảo phụ bà nâng đầu bao, Thanh Nghi giữ cho bánh xe khỏi lăn. Khi mọi thứ đã buộc chắc, bà hỏi họ có tìm được người không.
“Có,” Bảo đáp. “Nhưng cháu còn phải tìm người đã nhận tờ phiếu.”
Bà Vân kéo nút dây, thử độ chặt. “Vậy hôm nào đi tiếp, báo ta sớm. Đường này không phải ngày nào cũng có hàng.”
Bảo leo lên xe. Trong lòng hắn, tờ giấy chép dấu tre cọ khẽ vào lá thư Mộc để lại. Hắn giữ chúng ở hai túi khác nhau: một thứ là lời của người đã mất, một thứ là lời người đang sống vừa đủ can đảm nói ra.