Chương 215: Chuyến Xe Không Trở Lại
Người giữ tuyến cũ của Nhất Dực Hội nhớ một chuyến xe không trở lại.
Bà không nhớ tên người đánh xe. Điều bà nhớ là chiếc bánh bên trái bị vá bằng hai thanh gỗ khác màu; người sửa còn dặn đi chậm qua khe. Chuyến ấy mang gạo, muối và một hòm giấy lên phía bắc. Trong sổ ở tay bà chỉ ghi ngày xe rời trạm, không có dòng xác nhận xe tới nơi.
Ông Từ đưa lời kể tới ngoại viện sau khi đã hỏi bà. Ông không nói tên Mạc Trì hay đưa bản chép riêng của ông giữ bếp; ông chỉ hỏi về một chuyến chở sổ trên tuyến cũ. Bà giữ tuyến đồng ý cho chép phần liên quan tới xe, nhưng trang có những khoản buôn của người khác thì không.
Tạ Tiểu Bảo đặt mảnh giấy cạnh bản chép “sổ mới gửi qua mái bắc”. Ngày xe rời trạm gần với ngày trong cuốn sổ của người đàn ông bên khe, nhưng hai bản dùng cách ghi khác nhau. Bảo nhờ Thanh Nghi đọc lại, nàng nói phải biết hai người ghi dùng cùng lịch hay không mới so được.
“Xe không trở lại nghĩa là bị mất sao?” Hổ hỏi. Hắn vừa mang cho Bảo một bát nước, thấy hai người nhìn giấy liền kéo ghế ngồi.
“Chỉ là trong trang bà ấy giữ không có dòng xe về,” Thanh Nghi đáp. “Có thể dòng ấy ở trang khác, cũng có thể xe không về.”
Hổ uống phần nước của mình, hỏi còn ai giữ những trang khác. Ông Từ nói bà giữ tuyến đã chuyển sổ cho hội khi nghỉ việc; ông có thể hỏi Lương, nhưng không chắc hội còn đủ. Bảo nhớ Lương đang theo xe hàng, chưa biết lúc nào về.
Hứa Đồng nghe chuyện, hỏi Mạc Trì có đồng ý cho mang tin chuyến xe tới hỏi ông không. Ông Từ nói tin xe do bà giữ tuyến cho phép chia sẻ; còn chuyện người giữ bếp có thể trả lời hay không thì phải hỏi ông ấy. Bảo nhận đi cùng Dư An trong chuyến đã hẹn, sẽ không mang bản ghi có tên người khác nếu họ chưa cho phép.
Trước khi đi, hắn trực buổi sáng. Một người đưa đinh tới sớm, xin đặt thùng dưới mái. Bảo ghi giờ nhận, gọi người quản kho ra kiểm rồi trả phiếu cho người giao. Xong ca, hắn ăn cơm với rau và một miếng cá nhỏ. Người nấu cơm để phần cho Dư An mang đi; Bảo thêm vào túi một quả quýt Thanh Nghi cho hôm trước, không mua gì.
Dư An mang túi vải và chiếc gậy mới nhờ người thợ làm. Ông chưa biết Mạc Trì có muốn dùng không. Bà Viên dẫn họ qua đường đá; Thanh Nghi đi cùng để hỏi về ngày trong sổ. Trên đường, họ gặp con trai bà Liên đang mang giỏ rau xuống xóm. Cậu nói mái bếp sau trận mưa vừa rồi không còn dột ở chỗ cũ, nhưng mép mái ngoài vẫn nhỏ nước vì máng đầy lá. Bà Liên đã nhờ người nhà lấy lá ra.
Mạc Trì ngồi bên bếp, cuốn sổ đặt trên bàn thấp. Ông chào Dư An, hỏi người bệnh ở xóm bên khe đã ăn thêm được chưa. Dư An nói lần gần nhất ông nhận tin, bà đã ăn được cháo và gia đình vẫn chăm; nếu có tin mới ông sẽ báo. Mạc Trì gật đầu, kéo chiếc đôn lại gần.
Dư An xem chân theo lời ông đồng ý. Khi được hỏi có muốn thử gậy không, ông nhìn chiếc gậy một hồi rồi nói muốn. Dư An đặt ghế sát cạnh, bà Liên giữ lối đi. Mạc Trì chống tay vào gậy và mép ghế, nhấc người lên. Ông đứng được một nhịp, đầu gối trái run, rồi ngồi xuống. Không ai vỗ tay hay bảo ông cố thêm.
“Ta thấy nồi,” ông nói, hơi thở chưa đều.
“Ông thấy,” Dư An đáp. “Lần sau nếu muốn thử tiếp, ta sẽ ở đây.”
Bảo đặt quả quýt lên bàn, hỏi ông có muốn nhận không. Mạc Trì bảo để sau. Bà Liên lấy nước ấm, ông uống từng ngụm rồi đặt bát xuống.
Khi ông đã nghỉ, Thanh Nghi kể lời bà giữ tuyến về chiếc xe. Nàng nói rõ bà chỉ không thấy dòng xe về trong trang mình giữ. Mạc Trì nhìn vào ngọn lửa, tay đặt trên thành ghế.
“Bánh xe có hai thanh gỗ?” ông hỏi.
“Bà ấy nhớ hai thanh khác màu,” Thanh Nghi nói.
“Ta từng thấy một bánh như vậy. Người kéo nó qua sân, để dưới mái ngoài.”
Bảo hỏi người ấy có mang hòm giấy không. Mạc Trì lắc đầu. “Ta chỉ thấy bánh. Hôm đó có mưa, ta không ra ngoài.”
Bà Liên nhíu mày. “Cha tôi từng để một bánh xe cũ ở kho dưới nhà. Tôi tưởng của xe chở củi.”
Ông giữ bếp ngẩng lên. “Cha bà kéo tới. Một người khác đi cùng.”
“Ông ấy có nói tên người đó không?”
“Ta không nhớ.”
Bà Liên nói chiếc bánh đã được chuyển khỏi kho khi nhà sửa nền, có thể còn ở nhà người anh. Bà sẽ hỏi, không chắc tìm lại được. Bảo muốn đi ngay, nhưng bà bảo người anh đang ra ruộng, chiều mới về. Họ hẹn bà sẽ hỏi trước, nếu còn bánh thì nhắn.
Mạc Trì lấy tờ giấy “sổ giao sau” trong hộp, trải ra cạnh cuốn sổ dày. Ông hỏi Thanh Nghi ngày trên giấy trạm và ngày chuyến xe có gần nhau không. Nàng giải thích hai cách ghi chưa được đối; bà giữ tuyến không cho xem cả sổ, còn ngày ở nhà người đàn ông là bản chép của cha ông. Mạc Trì nghe xong, nói: “Vậy đừng viết xe ấy chở sổ của ta.”
“Vâng,” nàng đáp.
Ông khẽ gấp tờ giấy lại. Đôi tay ông làm chậm, mép gấp lệch một chút. Bảo định đưa tay đỡ nhưng dừng lại; ông vẫn tự làm được. Khi Mạc Trì đặt giấy vào hộp, hắn hỏi có thể ghi lời ông nhớ về bánh xe không. Ông đồng ý, nhưng dặn ghi rõ chỉ thấy bánh, không thấy hòm.
Đến trưa, bà Liên hâm cháo. Mạc Trì ăn được gần hết, để lại một thìa rồi nhìn bát. Ông hỏi Bảo có đói không. Hắn nói đã có cơm nắm. Ông vẫn nhìn thìa cháo cuối, nói trước đây người trực trước luôn để ông ăn hết, bảo còn sức mới giữ được bếp.
“Ông ấy tên gì?” Bảo hỏi.
Mạc Trì chậm rãi lắc đầu. “Ta nhớ bàn tay, không nhớ tên.”
Ông ăn nốt thìa cháo. Bảo bóc quả quýt, đặt từng múi vào chiếc đĩa nhỏ; Mạc Trì nhận một múi, đưa đĩa lại cho bà Liên. Những người khác ăn phần cơm mang theo, không lấy thức ăn trong nồi trên bếp.
Trước khi về, Thanh Nghi hỏi ông có muốn bà giữ tuyến xem bản vẽ hai nét trên thẻ để đối ký hiệu không. Mạc Trì suy nghĩ, rồi cho phép nàng ghi hình hai nét và hỏi bà, nhưng không đưa thẻ đi. Nàng vẽ trên giấy, đưa ông xem; ông chỉ một nét ngắn chưa đủ, nàng sửa rồi đọc lại lời ông cho phép.
“Không có tên ta trên giấy ấy,” ông nói.
“Không có,” nàng đáp. “Con chỉ hỏi về hai nét.”
Họ xuống núi trước khi trời tối. Tại chân dốc, bà Viên nói sẽ ghé nhà anh bà Liên hỏi chuyện bánh xe rồi chuyển tin sau. Dư An nhắc Mạc Trì đã thử đứng một nhịp, không nên ghi thành ông đi được. Bảo đồng ý, báo Hứa Đồng đúng những gì thấy và lời ông cho phép hỏi.
Hổ chờ ở sân nuôi. Bảo kể ông giữ bếp đứng được một nhịp, ăn hết bát cháo và nhận một múi quýt. Hổ hỏi bánh xe có đưa được người tới nhận ca không. Bảo nói chưa biết bánh còn hay không, và cũng chưa chắc nó thuộc chuyến xe trong sổ hội.
Hai người cùng người coi kiểm máng. Ô Kê đã uống nước, chốt cửa vẫn chắc. Bảo ăn cơm tối với canh bí, không tiêu thêm tiền trong ngày. Hắn ghi vào sổ nhỏ: “Có người nhớ bánh xe. Chưa thấy hòm giấy.” Bên dưới, hắn để trống chỗ ngày bà Liên báo tin.