Chương 359: Người Cầm Bát
Người gánh nước hôm trước đã nói được tên nhà mình.
Ông Thuận đứng ngoài cổng bà Mạnh, hai tay xách đôi thùng rỗng. Ông bảo sau một buổi ngồi cạnh chiếc ghế bên giếng, người ấy nói được tên ngõ và chỉ về một căn nhà có cửa sơn xanh. Ông đã theo lời chỉ dẫn, đưa hai thùng nước tới tận bậc cửa. Người gánh nước được một người trong nhà đón vào nghỉ.
“Còn chiếc ghế của ông?” Bảo hỏi.
“Ta để lại cho bác ấy ngồi. Nhà ta vẫn còn ghế khác.”
Bảo nhìn đôi thùng. “Hôm nay ông mang ra giếng giúp bác ấy à?”
“Người nhà nhờ ta lấy thêm nước. Ta trả thùng lúc về.” Ông Thuận nhấc quai cho hắn thấy. “Hai cái này không thuộc về ta, cháu đừng ghi nhầm vào sổ.”
Bảo đỏ mặt. Hắn chưa định ghi, nhưng quả thật đang nghĩ tới việc đó. Hắn xin đi cùng. Dư An vừa xem Ô Kê, nói con gà đã ăn và uống tốt hơn hôm qua; nếu mang nó theo thì nhớ để sẵn nước và tránh nắng. Hổ đưa lồng ra, còn Thanh Nghi mang bản chép dòng *bát cầm theo khi kiểm người giữ lửa*.
Bà Mạnh ngồi bên bàn, hai bàn tay đặt trên khăn. Bảo kể ông Thuận đã giúp đưa nước về nhà người gánh hôm trước. Bà nghe, mắt hướng ra hiên. Hắn nói thêm sẽ hỏi ông Diệp về chiếc bát và tấm biển. Khi nhắc tới người giữ lửa, ngón tay bà co lại. Dư An ngồi cạnh, bảo có điều gì bà muốn nói thì ông sẽ ghi rồi chuyển cho Bảo.
Ở sân giếng, ông Cẩn đang cùng Tín sửa một chân phên bị lỏng. Hôm qua họ đã dựng phên để Ô Kê có chỗ đi lại; đêm qua gió làm một góc nghiêng. Bảo giúp giữ cọc, còn Hổ buộc lại bằng dây mới. Họ đặt phên xa lối đi và không che đầu rãnh.
Ô Kê bước khỏi lồng, đi ngay tới góc tường nơi nó đã tìm thấy mảnh sành. Nó bới rơm hai lần, không thấy gì, bèn đứng nhìn giếng. Bảo đặt máng thóc xuống cạnh nó. Con gà mổ vài hạt rồi quay đầu về phía thành đá.
“Lần này không có mảnh bát thứ hai,” hắn nói.
“Có thể vì cháu đã nhặt mảnh thứ nhất,” Tín đáp.
“Vậy ta trả lại cho nó?”
Tín tưởng hắn nói thật, vội bảo mảnh sành có cạnh sắc. Bảo lấy nó trong túi ra, chỉ cho cậu xem đã bọc kín. Hắn cũng chưa biết nó có thuộc về ai, nên định giữ cho tới khi hỏi được người trong làng.
Ông Thuận múc hai thùng nước, đi về phía ngõ cửa xanh. Thanh Nghi giúp ông đỡ một đầu đòn gánh ra khỏi sân. Ông Cẩn nói sáng nay Tín đã ghé thăm ông Diệp; người thợ già muốn gặp Bảo. Mảnh ván vẫn trong hòm, ông chưa nhờ ai lấy ra.
Bảo nhìn Ô Kê. Con gà đang đứng sau phên, có nước và bóng râm. Hổ nhận trông nó để hắn đi cùng Thanh Nghi. Trước lúc đi, Bảo ngồi xuống ngang tầm lồng, báo nó biết mình sẽ quay lại sau khi gặp ông Diệp.
Nhà ông Diệp mở cửa sổ. Tín vào trước, bê một chiếc bàn nhỏ tới cạnh ghế ông. Trên bàn đã có giấy và bút, cùng hai mẩu giấy hôm qua ghi *bát treo* và *bát cầm*. Người thợ già nhìn Bảo, nhích bàn tay tới mẩu thứ hai.
“Ông muốn kể tiếp chuyện cầm bát?” Thanh Nghi hỏi.
Ông Diệp chớp mắt. Tín rót nước, đặt gần tay ông. Mất một lúc ông mới nói được: “Bà... cầm.”
“Bà Mạnh?” Bảo hỏi.
Ông khẽ gật. Lần này cái gật rõ hơn hôm qua. Bảo viết xuống, rồi để giấy trước mặt ông. Ông nhìn hàng chữ một hồi, đầu ngón tay chạm vào tên bà Mạnh.
“Bà cầm bát khi đi kiểm người giữ lửa?” Thanh Nghi đọc thêm dòng trong giấy bàn giao.
Ông Diệp nhìn nàng. Hơi thở ông dài và chậm; tới khi nàng định đặt bút xuống, ông phát ra một tiếng: “Nước.”
Bảo nhớ lời bà Mạnh dặn ông Thuận để hở khe dưới thành giếng. Hắn cũng nhớ chiếc bát úp ngoài cửa phòng trực. Hắn muốn hỏi có phải chính cái bát ấy không, nhưng ông Diệp đang cố nói tiếp. Hắn đặt tay lên đầu gối, ngồi chờ.
“Bát... nước.” Ông ngừng lại, rồi nói thêm: “Cho gà.”
Căn phòng yên lặng. Tiếng mài dao ở nhà bên vọng qua tường, mỗi lần đá chạm lưỡi dao đều đều như một nhịp đếm.
“Bà Mạnh cầm bát nước cho gà,” Thanh Nghi nhắc lại. “Ông nhớ con gà ở đâu không?”
Ông Diệp đưa tay về phía cửa sổ. Qua khung cửa là một đoạn đường dẫn tới sân giếng, không thấy cả giếng. Bảo ghi lại vị trí tay ông chỉ, rồi đọc thành tiếng câu vừa viết. Ông Diệp nhìn tờ giấy; ông không sửa, nhưng cũng không nói thêm.
Bảo hỏi nhỏ: “Có phải Ô Kê không?”
Một lúc sau, ông già lắc đầu. Hắn thấy tim mình hụt xuống. Nhưng ngay tiếp đó ông Diệp nói: “Không... biết tên.”
“Ông không biết tên nó,” Bảo nhắc lại. “Vậy con gà ông thấy màu gì ạ?”
Môi ông mấp máy. Tín đưa chiếc khăn lau trán cho ông, nói có thể đợi. Ông Diệp nghỉ một lát rồi chạm vào mảnh vải sẫm bên mình. Bảo định nói *màu đen*, nhưng nhận ra vải còn có vệt nâu ở mép. Hắn đưa hai miếng vải, một đen một nâu, đặt cách nhau. Ông Diệp chậm rãi chỉ miếng đen.
Con gà đen ở gần giếng, được bà Mạnh mang nước tới. Bảo chép từng điều, không thêm tên Ô Kê. Con gà của hắn cũng đen, từng chạy thẳng về giếng, nhưng bao nhiêu con gà đen đã sống ở làng này? Một màu lông chưa đủ trả lời.
Ông Cẩn xin lấy mảnh ván. Tín đặt nó trên khăn như hôm qua. Ông Diệp nhìn mặt sau, rồi chỉ vào nét cong. Lần này ông nói rõ hơn: “Chim.”
Bảo cúi sát, nhìn ba vạch tỏa ra. “Hình chim trên biển ạ?”
Ông Diệp gật. Thanh Nghi ghi lời ấy vào bản vẽ, bên cạnh đoạn trước đây họ chưa biết là chân chim hay vết nứt. Ông không nói phần hình đã mất trông thế nào. Hắn nghĩ tới Ô Kê đang chờ sau phên, chợt muốn mang con gà đến cho ông xem.
“Để ta hỏi ông trước,” Cẩn nói. “Con gà có thể đập cánh trong nhà, ông ấy dễ giật mình.”
Tín hỏi. Ông Diệp nhìn ra cửa, rồi gật. Cẩn đề nghị mang lồng đặt ngoài hiên để ông nhìn từ trong nhà. Bảo chạy về sân giếng, nói với Hổ. Anh kiểm cửa lồng, cùng hắn khiêng, đi chậm qua chỗ người giữ dây gàu.
Ô Kê vừa tới hiên đã ngẩng đầu. Bảo mở tấm vải che một bên lồng. Ông Diệp ngồi ở ngưỡng cửa, được Tín kê ghế vững. Ánh nắng rơi lên lông con gà; một vài sợi ánh lên màu xanh sẫm.
Ông nhìn rất lâu. Bảo không giục. Hắn nhớ ngày mình rời làng, Ô Kê đã ở bên cái nồi; nếu ông Diệp từng thấy nó trước đó, ông có thể nhận ra. Nhưng hắn không biết trong mắt người thợ già, bao nhiêu thời gian đã trôi qua từ lần gặp con gà kia.
Cuối cùng ông Diệp nói: “Giống.”
“Giống con ông từng thấy?” Bảo hỏi.
Ông gật. Bàn tay ông nhấc lên, làm động tác như đặt một chiếc bát xuống đất. Ô Kê bước tới nan, nghiêng đầu nhìn ông. Hai người cứ thế đối diện qua khoảng hiên. Rồi con gà gõ mỏ lên nan hai tiếng, không mạnh.
Ông Diệp cười. Nụ cười đến chậm, nhưng Bảo nhìn thấy khóe miệng ông nhích lên. Ông nói tiếp, từng tiếng cách nhau: “Bà... gọi... giữ lửa.”
Bảo quay sang Thanh Nghi. Nàng đã ghi lại cả câu, rồi hỏi ông Diệp có phải bà Mạnh gọi con gà là người giữ lửa không. Ông lại gật. Tín đỡ tay ông đặt xuống tay ghế, còn Cẩn kéo tấm vải che bớt nắng cho lồng.
“Vậy con gà bà cho uống nước được gọi là người giữ lửa,” Bảo nói. “Ông bảo Ô Kê giống nó.”
“Đúng những gì ông vừa kể,” Thanh Nghi đáp. “Ông chưa nói chắc hai con là một.”
Bảo không cãi. Hắn thấy điều ấy vẫn đủ lớn: trong giấy có người giữ lửa, còn ông Diệp nhớ bà Mạnh mang nước cho một con gà được gọi bằng cái tên ấy. Mảnh ván có hình chim, nhưng nó có thể chỉ là hình đánh dấu công việc, chưa chắc vẽ con gà cụ thể.
Hắn cảm ơn ông Diệp. Trước khi đi, hắn đặt mảnh sành trên bàn cạnh bản vẽ, hỏi ông có muốn giữ không. Ông già nhìn một lúc rồi đẩy rất nhẹ về phía hắn. Tín hiểu ông muốn Bảo mang đi, bèn bọc lại giúp. Hắn hứa nếu tìm được người nhận ra chiếc bát, sẽ báo cho ông.
Ở giếng, ông Thuận đã trở lại. Người gánh nước và người nhà đều nhận đủ hai thùng; ông còn đưa thêm một bó rau để họ nấu bữa trưa. Hổ giúp xếp phên lại sát tường. Họ không để Ô Kê chạy thêm hôm nay, vì nắng đã gắt và con gà vừa đi một quãng.
Bảo dẫn mọi người về nhà bà Mạnh. Hắn kể lại chậm rãi, để bà có thời gian nghe: bát nước, con gà đen, hai tiếng *giữ lửa*, và việc ông Diệp nói Ô Kê giống con gà ấy. Bà nhìn hắn, rồi nhìn ra hiên nơi chiếc lồng đặt dưới bóng mái.
Dư An đưa bà chén nước. Bà uống được một ít, bàn tay run khi đặt chén xuống. Bảo đưa tay đỡ đáy chén, nhưng bà vẫn giữ quai cho tới khi chén chạm bàn.
“Bà có từng cho Ô Kê uống nước ở giếng không?” hắn hỏi.
Bà khẽ động môi. Hắn chờ, cả nhà cũng chờ. Một lúc sau, bà phát ra một tiếng: “Có.”
Bảo nhìn Dư An. Ông vừa nghe rõ như hắn. Nhưng bà chưa nói lần ấy là khi nào, hay đó có phải con gà ông Diệp nhớ. Hắn nắm lấy thành ghế, cố giữ câu hỏi tiếp theo trong miệng. Bà đã mệt; đôi mắt bà chậm chạp khép lại.
Hổ mang cháo ra. Bảo ăn một bát, lại xin thêm nửa bát. Hắn đặt bát xuống khi nghe Ô Kê gõ máng, định chạy ngay ra hiên, rồi nhận ra tay mình còn dính cháo. Hắn lau sạch trước khi thay nước cho nó.
“Ngươi có phải người giữ lửa không?” hắn hỏi qua nan lồng.
Ô Kê uống nước. Nó uống xong, nhìn hắn, rồi mổ một hạt thóc. Không có lửa nào bùng lên, cũng không có giọng nói trả lời. Bảo ngồi cạnh nó thêm một lúc, nhớ bàn tay ông Diệp giả làm động tác đặt bát xuống đất.
Hắn lấy chiếc chén sạch của mình, rót một ít nước và đặt cạnh lồng. Máng của Ô Kê vẫn đầy; chiếc chén chỉ để hắn nhìn cho rõ hình dáng một người cầm nước đến gần con gà. Dư An đi ra, hỏi hắn làm gì. Nghe hắn kể, ông bảo tưởng tượng cách người khác làm việc có ích, miễn đừng nhầm nó với điều đã biết.
“Con chưa biết bà dùng bát nào,” Bảo nói.
“Cũng chưa biết khi kiểm người giữ lửa, ngoài đưa nước còn phải làm gì.”
Bảo cất chiếc chén, ghi hai câu ấy vào sổ. Bên dưới, hắn thêm lời ông Diệp và lời bà Mạnh, phân ra hai dòng riêng. Hắn viết chậm, vì lần này không muốn bỏ sót chữ *giống*.
Trời sẫm dần. Hổ thu quần áo khỏi dây, Thanh Nghi mang bản chép vào nhà cho khỏi ẩm. Bảo khóa cửa lồng, kiểm lại nút dây. Ô Kê đã ăn thêm và đứng yên dưới mái. Khi hắn đứng dậy, nó bỗng ngẩng đầu nhìn về giếng, rồi gõ hai tiếng vào nan, giống lúc gặp ông Diệp.
Bảo quay về phía con đường tối. Một người giữ lửa từng được đưa nước ở nơi ấy. Ô Kê đã ở bên hắn suốt quãng đường dài, còn hắn chưa từng hỏi vì sao nó cần trở về.