Chương 174: Người Hỏi Giá
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo tìm thấy một miếng chì trong đáy túi vải cũ.
Nó nằm dưới đường chỉ sờn, lẫn với một mẩu dây đã khô cứng. Hắn đặt miếng chì lên bàn, lấy khăn lau bụi. Dấu ép mờ tới mức phải nghiêng về phía cửa sổ mới nhìn ra hình chim xòe một cánh.
Bảo không vội gọi đó là miếng đã thấy ở Thanh Hà. Hắn nhớ từng giữ một dấu như thế, nhưng chiếc túi đã theo hắn qua nhiều chặng. Hắn đặt cạnh tờ giấy vẽ hôm qua. Một nét trên hình vẽ sai: đầu cánh hắn vẽ cong hơn dấu trên chì. Hắn không sửa ngay, chỉ ghi bên dưới: *vẽ theo trí nhớ*.
Chiếc nồi vẫn bọc vải ở phía trong bàn. Hắn cất miếng chì vào một góc khăn riêng, không đặt nó cùng đồng tiền. Trước ca, hắn ăn cháo và mua một chiếc bánh bằng tiền công đã nhận, sau đó tới khu nuôi thay nước cho Ô Kê. Người coi khu nuôi nhận trông trong giờ hắn trực.
Ở phòng Hứa Đồng, người trực trước bàn giao sổ. Miếng che bảng nước đã gửi tới điểm giao, còn chờ lời báo sau vài lượt dùng. Một người hẹn hỏi phiếu vận chuyển sẽ tới buổi sáng. Bảo đọc từng dòng rồi ký nhận ca.
Người hẹn là người mang kiện hàng hôm qua. Ông tới cùng một người đàn ông trẻ hơn, áo đi đường phủ bụi. Người mới mang theo một cuộn giấy và không bước qua ngưỡng khi chưa được mời.
“Đây là người thuê ta chở chuyến,” người mang hàng nói. “Hôm qua ta đã nhờ ông ấy hỏi người giao về dấu chì.”
Bảo mời hai người ngồi, rồi gọi Hứa Đồng. Người trẻ nói mình phụ trách nhận và chuyển một số chuyến hàng qua khu này; người giao trực tiếp cho họ cho biết miếng chì dùng để đánh dấu dây của một mối hàng. Ông ta chưa nói nó thuộc riêng ai, cũng chưa giải thích vì sao dùng hình chim một cánh.
“Ông có gặp trực tiếp người giao?” Bảo hỏi.
“Người của ta hỏi. Ta chưa gặp lại ông ấy.”
“Vậy lời đó qua hai người.”
Người trẻ nhìn hắn. “Ta có thể nhờ người hỏi lại, nhưng phải chờ chuyến sau.”
Hứa Đồng hỏi kiện hàng hôm qua đã được kho xác nhận chưa. Người mang hàng đưa bản nhận; ông xem tên và ngày, trả lại. Chuyện dấu chì chưa liên quan đến việc nhận số hàng đã giao, nên ông ghi riêng phần lời hỏi, không sửa phiếu của kho.
Bảo lấy miếng chì từ khăn, đặt lên bàn. “Con có cái này. Con không chắc là cùng người làm.”
Người trẻ cúi nhìn nhưng không cầm. Ông hỏi có thể xem gần không; Bảo đồng ý, còn nhắc đây là vật của mình. Ông đặt hai miếng cạnh nhau, xoay dưới ánh sáng. Dấu giống về hình chính, nhưng miếng cũ mờ và cạnh bị mẻ, không đủ để nói chúng được ép bằng cùng khuôn.
“Ngươi thấy nó ở đâu?” người trẻ hỏi.
“Con từng thấy dấu như vậy ở Thanh Hà.”
“Thanh Hà rộng.”
“Vâng.”
Người ấy ngẩng lên. “Ngươi không định nói thêm?”
“Con đang nghĩ xem ông định hỏi để làm gì.”
Hứa Đồng nhấc bát nước, đẩy tới giữa bàn. Người trẻ không giận; ông uống một ngụm rồi nói mình muốn biết dấu có xuất hiện trên những chuyến khác không, vì nếu hàng qua nhiều tay mà dùng một dấu, người nhận có thể tưởng tất cả thuộc cùng mối.
“Ông muốn tránh nhầm?” Bảo hỏi.
“Ta muốn biết mình đang chuyển cho ai.”
“Vậy ông cũng phải hỏi người giao.”
“Ta đang hỏi.”
Bảo cất miếng chì. Hắn không kể ngay chuyện thuốc giả ở chợ Tây cho một người vừa gặp. Hắn hỏi tên người trẻ và nơi có thể gửi lời nếu tìm thêm được thông tin. Ông cho tên và chỗ nhận tin của chuyến, nói không phải lúc nào mình cũng tới ngoại viện. Hứa Đồng ghi lời ấy khi ông đồng ý, còn bản ghi riêng về dấu cũ của Bảo để hắn tự giữ.
Người trẻ nhìn bản vẽ trên bàn. “Nét này ngươi vẽ?”
“Vâng. Vẽ lệch.”
“Ngươi biết đọc sổ?”
“Biết một ít.”
“Ta nghe người ở kho nói có người ghi việc còn chờ. Là ngươi?”
“Con là người ghi cửa.”
Ông nhìn chiếc ghế bên cửa. “Tên ấy nghe như người canh cửa.”
“Canh cửa là người khác. Con ghi.”
“Ghi những gì?”
“Những việc được giao qua đây, người giữ việc và điều chưa xong. Con không quyết thay kho của ông.”
Người trẻ cười nhẹ, không hỏi tiếp. Ông nói mình có sổ chuyến cần đối ở nơi nghỉ, nhưng trước mắt phải trả lời người thuê và kiểm lại phiếu. Nếu sau này cần người chép hay tìm sai lệch, ông sẽ hỏi Hứa Đồng về việc thuê. Bảo hỏi ngay có trả công không; người kia nói việc thuê nào cũng phải thỏa thuận trước, hiện chưa đưa việc cụ thể.
“Vậy con chưa nhận,” Bảo nói.
“Ta cũng chưa giao.”
Người mang hàng đứng dậy, báo xe sắp rời. Người trẻ xin giữ miếng chì của chuyến mình để đem hỏi người giao; kho đã trả nó sau khi đối hàng. Bảo giữ miếng của mình. Hai người không đổi cho nhau.
Khi khách đi, Hứa Đồng hỏi Bảo có muốn ghi gì thêm vào lời hẹn không. Hắn nói người trẻ chưa hẹn ngày, chỉ cho chỗ nhận tin. Ông ghi như vậy, nhắc nếu có ai tìm hắn trong giờ trực thì công việc ngoại viện phải được bàn giao trước khi hắn đi gặp riêng.
Bảo đồng ý. Hắn vừa ngồi xuống thì người trực từ điểm giao tới. Miếng che đã được lắp, nhưng khi trời âm u nó làm một góc bảng tối đi. Bà đề nghị bớt chiều rộng, không cần làm chiếc mới ngay. Bảo chuyển lời cho thợ qua người tiếp vận, ghi bà sẽ thử tiếp sau khi sửa; đến giờ thay ca, hắn bàn giao việc ấy cho người trực sau.
Bữa trưa, Hổ nghe chuyện người trẻ hỏi thuê thì đặt đũa xuống.
“Ngươi đã hỏi tiền?”
“Ông ấy chưa nói việc.”
“Nếu ông ấy trả rất nhiều?”
“Ta hỏi làm gì.”
“Nếu trả đủ mua một xe bánh?”
“Xe của ai?”
“Của ngươi.”
“Người đánh xe có ăn không?”
Hổ nghĩ một lúc. “Có.”
“Vậy phải trừ phần ấy trước.”
Bảo ăn cơm, rau và canh, không mua bánh thêm. Hắn kể cả chuyện hai dấu giống nhau nhưng không đủ để nói cùng khuôn. Hổ bảo có thể mang miếng của Bảo tới hỏi người thợ biết ép chì. Bảo thấy đó là một cách, nhưng muốn hỏi Hứa Đồng trước vì miếng còn liên quan chuyện cũ ở Thanh Hà.
Buổi chiều, Hứa Đồng giới thiệu hắn gặp một người thợ từng xem dấu buộc hàng. Người thợ nhận miếng chì khi Bảo đưa, đặt lên tấm gỗ và dùng đầu que chỉ những nét còn rõ. Ông nói hai miếng có cùng hình chim theo mô tả của Bảo, nhưng ông chưa nhìn miếng của chuyến hàng nên không thể đối trực tiếp. Vết mòn trên miếng cũ cũng làm mất một phần nét.
“Có thể biết của ai không?” Bảo hỏi.
“Không chỉ bằng cái này. Ta có thể nói cách nó được ép, không nói được tay ai đã ép.”
Ông trả chì. Bảo hỏi công xem là bao nhiêu; người thợ nói Hứa Đồng đã nhờ ông xem trong giờ làm, không thu riêng của hắn. Bảo cảm ơn rồi cất vật lại.
Trên đường về, hắn gặp người coi kho đang khóa cửa sau khi đối một chuyến khác. Ông hỏi người trẻ ban sáng có gây khó dễ gì không. Bảo đáp không, chỉ hỏi về dấu và công việc ghi sổ. Ông nói người ấy đã hỏi quy định thuê người ngoài giờ của ngoại viện; việc ấy phải nói với người phụ trách, không tự lấy giờ trực của Bảo.
Bảo nhớ lão Mộc từng hỏi ai thay khi hắn nghỉ. Nếu có người thuê thật, hắn phải biết giờ nào là giờ của mình. Nhưng hiện chưa có lời thuê để nhận hay từ chối.
Tối, hắn kiểm Ô Kê rồi ăn cơm, đậu và canh. Hổ đưa hắn một miếng bánh từ phần của mình; Bảo hỏi bạn đã ăn đủ chưa, rồi nhận. Tiền của Bảo còn như sau chiếc bánh sáng; lương người ghi cửa và các ca chưa đối vẫn chưa phát.
Về phòng, hắn đặt bản chép tên người giao chuyến cạnh tờ giấy nhận việc. Chiếc nồi vẫn bọc vải phía trong bàn. Miếng chì cũ được gói riêng trong khăn, đặt lên nét chim hắn vẽ lệch.