Chương 448: Cánh Cửa Sau Vách
Mộc dậy khi trời còn sáng. Ông gấp chăn, ngồi một lúc trên mép giường rồi gọi Bảo.
“Ngươi có giữ bản chép dấu dưới chân cửa không?”
“Có.”
“Đưa ta xem.”
Bảo lục trong túi giấy. Hai tờ hắn chép ở chỗ Hứa Đồng vẫn được bọc riêng; một tờ là dáng tượng, tờ kia có hai nét cong sứt và nét xiên rời. Mộc mở tờ thứ hai, nhìn rất lâu.
“Đây là dấu ở lối hẹp dưới Thái Huyền?”
“Vâng. Con nhìn lúc nghỉ giữa lượt chuyển cáng.”
Ông đặt giấy xuống, tìm trong gói của mình một bản ghi. Một đoạn ở góc bị nhòe, nhưng gần mép có hai nét cong và khoảng trống ở giữa. Nét xiên không có.
“Ta chép dấu này ở phòng giữ sổ,” ông nói. “Ta chưa biết cái dưới núi và cái ở đây có cùng nghĩa không. Nhưng khoảng sứt trên bản của ngươi làm ta nhớ đến nó.”
Bảo kéo hai tờ sát nhau. Hắn muốn nói chúng giống hệt, nhưng nét trên giấy Mộc mờ hơn và không đủ phần cuối. Hắn chỉ nói phần nào mình nhìn thấy, phần nào mình chưa chắc. Mộc lấy than đánh dấu vị trí đoạn nhòe ra một tờ rời, không vẽ thêm lên bản cũ.
Bà Mạnh vào phòng, mang theo bát nước ấm. Ông hỏi bà có nhớ tấm ván che lối giữ sổ không. Bà đáp tấm ván ấy nằm sau vách gỗ trong từ đường, lâu nay không ai mở vì đồ trong gian ngoài đủ dùng và những người trực cũ chưa tỉnh hết. Sau khi tỉnh, bà thấy vách vẫn nguyên, chưa kiểm tra phía sau.
“Người chị nhà bác giữ dây đã hỏi cô em và bác,” bà nói. “Hai người muốn xem lối đó, nếu ông kể được điều gì cần tránh.”
Mộc bảo ông nhớ một bậc thấp sau vách, bên phải là ổ khóa. Ông không nhớ tình trạng lúc này. Bà Mạnh đặt chìa lên bàn.
“Ông đi cùng được không?”
“Được.”
Bảo nhìn chiếc gậy. “Nếu thầy mệt thì con mang ghế.”
“Ngươi mang đèn. Ghế để người khác mang.”
Hắn nhận đèn. Tín nghe chuyện liền lấy một chiếc ghế thấp ở bếp, mang theo cả túi bánh. Cậu nói nếu lối hẹp không đủ chỗ thì sẽ ngồi ngoài chờ, nhưng bánh phải đi cùng. Thanh Nghi đem bản vẽ; Hổ nhận chiếc ghế.
Ở từ đường, cô em đang trực. Người chị đứng cạnh tấm chắn ngoài giếng; họ đã bàn với Hổ về việc đổi người nếu cần xem vách. Bà Mạnh nói rõ Mộc từng đóng lối và giữ chìa, rồi đưa tờ ông đã viết. Cô em đọc, hỏi ông có biết lối ấy thông ra giếng không. Mộc đáp ông chưa từng đi hết phía sau, chỉ biết phòng giữ sổ nằm sau cửa khóa.
Họ chuyển ca trước khi mở tấm vách. Người chị ở lại theo dõi giếng, Hổ nhận trông phòng trực bên ngoài; cô em, bà Mạnh, Mộc, Thanh Nghi và Bảo vào gian trong. Tín đặt ghế cạnh cửa, giữ túi bánh trên đầu gối.
Vách gỗ được giữ bằng hai chốt tre. Bà Mạnh rút chốt trên, cô em đỡ mép dưới. Khi tấm vách nghiêng ra, bụi rơi xuống nền. Bảo nâng đèn: phía sau là một khoảng hẹp đủ cho một người đứng nghiêng. Dưới chân có bậc gạch thấp như Mộc nhớ, phía bên phải lộ ra một cánh cửa nhỏ.
Ổ khóa phủ bụi, có một vệt xanh ở mặt đồng. Bà Mạnh đưa chìa cho Mộc. Ông tra thử, đầu chìa vào được nhưng không xoay. Ông rút ra, dùng khăn lau mặt khóa rồi thử lại, lần này dừng khi gặp lực cản.
“Đừng ép,” Thanh Nghi nói.
“Ta biết.” Ông đưa chìa lại cho bà Mạnh. “Ổ có thể bị kẹt. Ta không muốn làm gãy chìa trong đó.”
Bảo thấy cánh cửa ngay trước mặt mà phải lùi lại, ruột nóng như có than. Hắn hỏi có thể gọi người thợ trong làng không. Bà Mạnh nói ông Cẩn từng xem bệ tượng, có thể hỏi ông về ổ khóa, nhưng chưa biết ông có quen việc này không. Tín tình nguyện đi mời, để túi bánh lại cho Bảo giữ.
Chờ người thợ, Mộc ngồi trên ghế ở cửa. Ô Kê xuất hiện từ đâu, chen qua chân Hổ rồi chui tới bậc gạch. Bảo chụp nó, chỉ nắm được một cọng lông. Con gà lọt vào khoảng hẹp, mổ mổ ở mép tường, rồi quay ra với một mẩu giấy nâu dính trên mỏ.
“Đừng ăn!” Bảo nói.
Ô Kê ngẩng đầu. Hắn chìa nửa chiếc bánh còn giữ từ hôm trước; con gà nhả giấy, ngoạm bánh rồi chạy ra sân. Hắn nhặt mẩu giấy, thấy chỉ là mảnh bao cũ, không có chữ. Mộc nhìn theo con gà.
“Nó biết đổi.”
“Nó biết chọn thứ ăn được,” Bảo nói. “Nhưng con vừa mất nửa cái bánh.”
Ông Cẩn tới, xem ổ khóa dưới ánh đèn. Ông bảo lớp gỉ bám ở khe có thể làm chìa khó xoay. Ông xin mang dụng cụ nhỏ, làm sạch phía ngoài rồi thử; nếu vẫn kẹt thì phải tính cách khác, không hứa giữ nguyên ổ. Bà Mạnh hỏi những người có mặt. Mộc đồng ý, cô em muốn Hổ biết trước khi làm vì anh đang trông gian ngoài. Hổ nghe xong, nhắc đừng để bụi rơi vào bát nước gần bàn. Tín mang tấm vải che bàn, không di chuyển bát.
Ông Cẩn ngồi xổm, kiên nhẫn làm sạch. Bảo cầm đèn đến mỏi tay, đổi sang tay kia. Mộc ngồi cạnh, nhìn chiếc chìa trên lòng bàn tay bà Mạnh. Bà không hỏi vì sao ông giữ nó thêm lần nữa; câu hỏi ấy đã có câu trả lời, còn cánh cửa vẫn chưa mở.
Sau một lúc, người thợ nhận chìa, tra vào ổ. Ông thử rất nhẹ. Tiếng kim loại khô khốc vang lên, rồi chìa xoay được nửa vòng. Cánh cửa không bật ra; ông đẩy, thấy mép dưới bị kẹt vào nền gạch. Hổ mang miếng gỗ mỏng chèn, ông Cẩn nhấc nhẹ mép cửa. Một khe tối xuất hiện.
“Để ta nhìn trước,” Mộc nói.
Bảo giữ đèn cho ông. Qua khe, chỉ thấy một kệ gỗ thấp và nền đầy bụi. Không có chuyển động hay luồng nước. Ông Cẩn mở cửa rộng hơn; một cánh bản lề rên lên, nhưng vẫn giữ được.
Trong phòng có chiếc bàn nhỏ, một kệ sách và hai hộp gỗ. Một hộp đã hỏng nắp, bên trong là những mảnh giấy dính vào nhau. Hộp còn lại buộc dây. Mộc bước tới ngưỡng rồi dừng, vịn tay vào tường. Bà Mạnh đứng cạnh ông, nhìn chiếc bàn.
“Trước kia đèn ở đó,” bà nói, chỉ góc trái.
“Còn bát ở đây.” Mộc đặt tay lên mép bàn, không chạm chiếc bát đã úp. “Ta nhớ rồi.”
Bảo nhìn hai người. Đó không phải toàn bộ phòng trực hiện nay; chỉ là nơi giữ sổ bị đóng. Những chiếc bát, đèn và người nhận ca ở gian ngoài vẫn đang làm việc. Hắn chờ bà Mạnh xem hộp giấy.
Bà nhờ Thanh Nghi mang hộp còn buộc ra chỗ có ánh sáng. Dây đã giòn, phải cắt mới mở được. Bên trong có một cuốn sổ mỏng bọc vải và vài tờ rời. Cuốn sổ bị ẩm ở gáy, nhưng nhiều trang giữa còn đọc được. Mộc nhìn chữ trên trang đầu rồi nói đó không phải chữ ông; người giữ sau ông đã ghi thêm.
Bà Mạnh đọc một dòng về gạo, một dòng về dầu đèn, rồi dừng ở trang có các cột chia phần. Bên trên cùng ghi tên cửa chín. Bên dưới có tên mấy nơi, kèm số; một dòng bị bỏ trống ở cột người nhận.
“Chỗ trống này là gì?” Bảo hỏi.
“Ta chưa biết,” bà đáp. “Phải xem những trang trước và sau.”
Mộc xin ngồi gần cửa phòng giữ sổ. Hổ đặt ghế cho ông ở ngoài ngưỡng, nơi có gió và vẫn nhìn thấy gian trong. Bảo mang nước đến. Ông cầm bát, không uống ngay.
“Ta từng nghĩ đóng cửa lại là giữ sổ được yên,” ông nói với bà Mạnh. “Nhưng ta mang chìa đi, để người cần sổ không vào được.”
Bà lật một trang bị dính, không kéo mạnh. “Ông đã trở về và đưa chìa. Chúng ta sẽ xem còn cứu được những trang nào.”
Mộc nhìn bà. “Còn những người đã đợi?”
“Có người không đợi được nữa.” Bà đặt bàn tay lên bìa sổ. “Ta chưa kể hết cho ông.”
Ông cúi đầu. Bảo không hỏi ngay đó là ai. Hắn mang thêm ghế cho bà, rồi ngồi xuống bên chiếc hộp. Thanh Nghi ghi vị trí từng tờ trước khi lấy ra; cô em kiểm tra lại giờ giao ca, sau đó trở về giếng. Tín chia bánh cho mọi người, dành phần nhỏ nhất cho Ô Kê vì nó vừa ăn mất nửa cái của Bảo.
Mộc uống một ngụm nước, tựa lưng vào vách. Ánh chiều chiếu tới đầu gối ông, không tới được ngưỡng cửa. Ông nhờ Bảo kéo ghế lên một chút để nhìn cuốn sổ. Bảo làm theo, đặt bát nước trên bàn trong tầm tay ông.
Chiếc chìa đồng đã được rút khỏi ổ. Nó nằm trên tấm vải cạnh cuốn sổ, hai răng quay về phía trang giấy đang mở.