Chương 207: Người Ngồi Bên Bếp
Người dẫn đường tới trước giờ hẹn, mang theo một đôi giày đầy bùn và tin con đường đá phía bắc đã thông.
Ông Từ đưa bà vào phòng Hứa Đồng. Bà tên Viên, nhà ở gần đầu đường; ba hôm trước bà cùng hai người khác dọn nhánh cây đổ sau mưa. Đường đi bộ được tới mái nghỉ cũ, còn đoạn vượt khe phía sau thì bà chưa xem. Bà chỉ nhận dẫn đoàn tới mái nghỉ và quay về trong ngày.
Tạ Tiểu Bảo đặt tờ điều kiện của mình lên bàn. Lương đã gửi lời qua ông Từ: hội muốn biết đường có thể đưa hàng đi được không, có chỗ nghỉ và nguồn nước nào dọc đoạn ấy. Hội trả tiền công khảo sát cho Bảo và Thanh Nghi, trả riêng cho bà Viên dẫn đường; ghi chép về đồ đạc hoặc giấy riêng của người tại điểm nghỉ chỉ được đưa đi khi họ đồng ý.
Hứa Đồng đọc lại số tiền ghi trong tờ việc. Bảo hỏi nếu tới nơi phải quay về sớm thì tính sao. Ông Từ nói hội vẫn trả công ngày đi; nếu phải thuê người giúp trên đường, đoàn sẽ dừng bàn trước, không tự hứa thay hội. Bà Viên đã nhận một phần tiền dẫn đường, phần còn lại trả khi về.
Thanh Nghi hỏi mái nghỉ có người ở không. Bà Viên bảo có một người sống gần đó, thường mang nước ra cho khách, nhưng bà không gặp ông ấy mấy tháng nay. Người nhà gần nhất ở cách mái nghỉ một quãng đi bộ; nếu không thấy người bên bếp, bà sẽ hỏi họ.
Hứa Đồng nhìn chân hai người. Dư An đã xem hôm trước, cho phép đi nếu nghỉ đúng lúc và dừng khi đau tăng. Bảo nhận ca bù sau chuyến đi; Thanh Nghi sắp lại việc của mình. Cả hai đồng ý nhận chuyến khảo sát tới mái nghỉ, không nhận đi tiếp qua khe.
Sáng lên đường, bếp phát cơm nắm và ít rau muối. Bảo dùng tiền của mình mua một cái bánh nóng ở chân núi, bẻ nửa đưa Thanh Nghi. Nàng nhận, lấy từ túi ra một quả lê nhỏ đặt cạnh phần của hắn. Hắn hỏi nàng đã mang đủ chưa; nàng nói còn một quả, hắn mới cất lê.
Hổ không đi. Hắn phải giúp người coi khu nuôi chuyển bao cám, nhưng đã tới cửa trước lúc xe chạy. Ô Kê được người coi nhận chăm trong ngày, tối Bảo về sẽ tự xem. Hổ dúi vào tay hắn một đoạn dây gai, nói có thể buộc đồ nếu túi bị đứt. Bảo quấn dây quanh quai túi rồi lên xe.
Đến đầu đường đá, bà Viên dẫn họ đi bộ. Những phiến đá cũ không còn đều; giữa hai phiến có cỏ mọc và một vũng nước đục. Ông Từ đi sau Thanh Nghi, còn Bảo cầm giấy bọc dầu. Hắn ghi chỗ xe phải dừng, khoảng đường đoàn đi bộ và nơi có thể tránh mưa. Bà Viên chỉ cho họ một gốc cây bị gió quật, cành đã được cưa gọn sang mép đường.
Qua một khúc ngoặt, khói mỏng hiện lên sau rặng trúc.
Mái nghỉ thấp, một phía tựa vào vách đá. Trước cửa có chiếc bàn gỗ và hai ghế dài; bên trái là bếp lợp mái riêng. Từ ống khói, một sợi khói xám bay lên rồi tan. Bảo tưởng bà Viên đã nhìn thấy nên vẫn đi tiếp, cho tới khi bà dừng lại.
“Bếp ấy còn đỏ lửa à?” bà nói.
Bảo hỏi lần trước bà tới có thấy lửa không. Bà đáp trời hôm ấy mưa, cửa khép, bà chỉ để một bó củi ở mái ngoài rồi đi. Bà không gặp người ngồi trong bếp.
Ông Từ gọi lớn từ lối vào. Không có tiếng đáp. Bà Viên đi trước tới cửa, gõ ba tiếng vào cột gỗ. Một lúc sau, trong bếp có tiếng vật gì chạm vào mép nồi.
Một người đàn ông ngồi bên bếp. Ông mặc áo màu tro, tay áo xắn lên, trước mặt là một cuốn sổ dày đặt trên đùi. Mái tóc bạc buộc sau gáy. Một tay ông giữ chiếc vá dài, tay kia đặt trên trang giấy.
“Đến nhận phần?” ông hỏi.
Bà Viên tiến thêm một bước. “Chúng tôi đi xem đường. Ông còn nhớ tôi không? Nhà tôi ở dưới chân dốc.”
Người đàn ông nhìn bà, rồi nhìn những người phía sau. Đôi mắt ông dừng lại ở cuốn sổ trên tay Bảo.
“Có giấy nhận không?”
Bảo lắc đầu. “Chúng con không tới nhận hàng. Chúng con muốn hỏi đường và xin ngồi nghỉ.”
Người đàn ông đưa mắt về chiếc bàn. “Ngồi đi. Nước ở chum. Bát úp trên giá.”
Bà Viên gọi thêm một lần, xưng tên mình. Ông nhìn bà, hơi nhíu mày như đang tìm một dòng trong trí nhớ. Cuối cùng ông nói: “Củi để dưới mái, đừng chặn cửa.”
Bà khẽ đáp vâng. Bảo không biết ông có nhận ra bà hay không. Hắn và Thanh Nghi ngồi xuống, ông Từ kiểm chiếc chum rồi rót nước. Nước còn mát, bát sạch và khô.
Từ chỗ ngồi, Bảo thấy đáy nồi trên bếp được kê bằng ba viên đá. Nắp nồi đậy kín, nhưng hơi nóng thoát ra ở mép. Một bó củi nhỏ nằm trong tầm tay người đàn ông; bên cạnh là rổ tro, phía trên tro có mấy viên than đen chưa tắt.
Bà Viên vào bếp lần nữa, nói chuyến này có ba người khách muốn xem đường, sẽ về trước tối. Người đàn ông nghe tới chữ “ba”, mở sổ, lật từng trang. Những đầu ngón tay ông chuyển rất chậm; một trang giấy bị mắc, ông mất một lúc mới tách được.
“Không có ba phần,” ông nói.
“Chúng tôi mang cơm rồi,” Thanh Nghi đáp. “Không lấy phần trong nồi.”
Ông dừng lật. Chiếc vá trong tay chạm vào nắp nồi, kêu một tiếng nhỏ. “Vậy chờ người nhận ca.”
Bảo nhìn bà Viên. Bà không hỏi tiếp, chỉ ngồi xuống bên cửa. Sau một lát, bà kể nhỏ rằng trước đây mỗi khi qua, bà thường để củi và gạo ở mái ngoài. Có lần trời tối, bà nghe tiếng người nói phải giữ bếp, nên không làm phiền. Những người sống dưới dốc vẫn nghĩ có ai đó thay nhau coi mái nghỉ, nhưng bà chưa từng thấy họ giao ca.
“Bà có biết ông ấy tên gì không?” Bảo hỏi.
“Người nhà dưới dốc gọi ông là ông giữ bếp. Ta chưa nghe tên khác.”
Ông Từ đi ra sau mái theo lối bà Viên chỉ. Lát sau ông trở lại, nói có một đường xuống nhà dân; ông muốn tới hỏi, nhờ ba người chờ ở đây. Bà Viên đồng ý ở lại, chỉ đường cho ông và dặn qua đoạn bậc đá thì rẽ trái.
Trong bếp, người đàn ông lại nhìn vào sổ. Một mép giấy đã sẫm màu vì bị ngón tay giữ lâu. Bảo đứng ngoài cửa, hỏi có thể châm thêm củi không. Ông không đáp; hắn không tự bước vào. Một lúc sau ông cúi người, tự đẩy thanh củi gần nhất vào lửa. Đầu thanh củi chạm than, bùng lên một vệt đỏ rồi lại lặng.
Thanh Nghi lấy cơm nắm ra. Bảo ăn một nửa, giữ nửa còn lại; bà Viên mang bánh của bà, còn phần của ông Từ để trong túi ông. Người đàn ông trong bếp không nhìn thức ăn. Thanh Nghi hỏi ông có muốn một ít nước không, ông nói nước đã có trong chum.
Bảo để ý giọng ông đều đều, mỗi câu như đã nói nhiều lần. Hắn muốn hỏi tên và tuổi, nhưng không biết bắt đầu thế nào. Cuối cùng hắn hỏi: “Ông ngồi đây từ sáng sao?”
“Ta trực.”
“Khi nào ông được nghỉ?”
Người đàn ông dùng đầu vá chỉ cuốn sổ. “Khi có người nhận ca.”
Một cơn gió lùa qua, làm ngọn lửa nghiêng về phía sau. Ông kéo một tấm chắn bằng đất nung dựng lại cạnh bếp. Động tác ấy khiến bàn tay ông run lên; Thanh Nghi đặt bát nước trên mép bàn gần cửa, không đi vào khi ông chưa mời.
Ông Từ trở lại cùng một người phụ nữ trung niên. Bà mang một giỏ củi và một gói gạo. Bà nói nhà mình lâu nay đưa đồ tới mái nghỉ; cha bà làm trước bà, khi còn sống vẫn dặn không để bếp hết củi. Bà gọi người đàn ông là ông giữ bếp, không biết ông tên gì hay đến đây từ bao giờ. Lần gần nhất bà thấy ông đứng là đầu mùa trước; từ đó mỗi lần bà tới, ông đều ngồi bên bếp.
“Ông ấy ăn không?” Bảo hỏi.
“Có lần tôi để bát cháo, lần sau bát đã rửa. Nhưng tôi chưa thấy ông ăn.”
Người phụ nữ đặt giỏ xuống ngoài cửa và gọi. Ông giữ bếp nhìn bà, nói cảm ơn, rồi bảo để củi ở chỗ cũ. Bà không vào, đặt gói gạo cạnh bó củi mới. Bảo hỏi bà có biết người nhận ca của ông là ai không. Bà lắc đầu. Cha bà từng đi hỏi người ở trạm cũ, nhưng những người biết chuyện đã mất hoặc chuyển đi.
Trời đã xế. Bà Viên nhắc đoàn phải về trước khi đường tối. Bảo nhìn cuốn sổ trên đùi người giữ bếp, hỏi ông có cần nhắn ai không. Ông đáp: “Nếu gặp người nhận ca, bảo họ mang sổ.”
“Chúng con chưa biết tìm người ấy ở đâu.”
“Ta chờ ở đây.”
Trên đường về, Thanh Nghi ghi vị trí mái nghỉ, nguồn nước và lời người phụ nữ. Bảo chỉ ghi vào bản cho hội những gì liên quan đường đi, chỗ nghỉ và việc cần hỏi người giữ bếp trước khi dùng mái. Chuyện cuốn sổ và lời nhắn được ghi riêng để hỏi Hứa Đồng; hắn chưa đưa chúng cho hội.
Về tới ngoại viện, Hổ chờ ở khu nuôi. Bảo ăn nửa nắm cơm còn lại cùng bát canh nóng, rồi tới xem Ô Kê. Hắn kể cho Hổ nghe có người vẫn đợi nhận ca, nhưng chưa biết ông đợi bao lâu. Hổ hỏi ngày mai có lên nữa không. Bảo nói phải bàn với Hứa Đồng và bà Viên trước.
Đêm ấy, hắn mở tờ giấy ghi câu hỏi cho chuyến đi. Dưới các điều kiện đã thỏa thuận, hắn viết thêm một câu: “Ai có thể nhận ca?”
Mực còn ướt. Hắn để bút ngang qua mép giấy.