Chương 296: Người Mang Bản Gốc
Sáng hôm sau, Lâm Hổ ra chỗ buộc Xám từ lúc sân ngoại viện còn vắng.
Con la đã ăn hết bó cỏ tối qua, để lại một cọng dài mắc trên quai máng. Hổ lấy xuống, định đặt vào miệng nó thì nghe tiếng chân sau lưng. Thanh Nghi mang hai bình nước tới, nói người giữ phòng lưu đã cử một người đi cùng họ đến trạm kho.
“Đi hôm nay được chứ?” Hổ hỏi.
“Nếu người ấy tới kịp chuyến qua trạm núi. Bà đang dặn việc và kiểm giấy.”
Nàng đưa anh một bình. Hổ đổ nước vào máng, Xám cúi xuống uống. Thanh Nghi đặt bản trích kẹp bìa vào túi áo; bản gốc vẫn ở phòng lưu, người được cử sẽ giữ. Nàng mang theo biên bản mở hòm và giấy nhận thư, còn chiếc bánh Hổ mua cho Bảo được bọc riêng trong túi lương.
Khi họ ăn sáng, người quen đã giúp tìm giấy đem một phong thư tới. Đó là thư từ điểm tập kết, được chuyển tiếp qua trạm kho đến đây. Nàng nhận ra chữ ghi tên mình ở ngoài, mở phong rồi đọc chậm từng dòng.
Người giữ giấy tại điểm tập kết trả lời rằng ký hiệu bên mục nhận chiếc bao tương ứng với một người giao hàng trên tuyến. Sổ ghi ngày nhận bao và ký hiệu, không ghi tên người đã đưa bao cho người giao hàng trước đó. Họ đồng ý để người có trách nhiệm đối phần liên quan nếu có cuộc hẹn; thư không kèm sổ gốc.
Hổ hỏi: “Có tên người giao không?”
“Có tên trong thư, nhưng ta chưa biết ông ấy lấy bao từ đâu.” Thanh Nghi chỉ dòng cuối. “Người viết nói sẽ liên hệ ông ấy. Ta chưa gặp, chưa thể hỏi thêm.”
Nàng không muốn gửi tên ấy cho Bảo như thể đã tìm ra người lấy lệnh. Nàng viết mảnh tin ngắn: thư từ điểm tập kết đã tới, có một đầu mối người giao hàng, cần đối với sổ và hỏi thêm. Nàng ghi rõ sẽ mang thư về gặp bà quản kho. Người quen giúp nàng đem mảnh tin ra bàn nhận.
Khi Hổ buộc lại túi, một người đàn bà tuổi trung niên tới cổng cùng người giữ phòng lưu. Người được cử tên là bà Từ. Bà mang một ống đựng giấy bằng tre, hai đầu được nút vải và bọc ngoài bằng lớp dầu. Bà giữ bản gốc, còn Thanh Nghi mang bản trích và các giấy của nàng.
Người giữ phòng lưu nhắc thời gian dự kiến đi về và địa chỉ trạm. Bà Từ cho xem tờ giao giấy có số lệnh, ký hiệu bản lưu và tên người giữ. Trên tờ ấy không có lời nào cho phép bà giao hẳn giấy gốc cho người ở trạm; bà được mang tới đối và đưa về. Thanh Nghi đọc xong, nói nếu cần thêm ngày vì đường, nàng sẽ cùng bà báo về ngoại viện.
Hổ nhìn chiếc ống tre. “Để trên lưng Xám có tiện hơn không?”
“Ta giữ trong túi áo. Nếu trời mưa, ta có áo phủ.” Bà Từ gõ nhẹ vào ống. “Nó nhỏ, không nặng.”
Xám ngửi túi áo bà, rồi quay sang túi lương của Hổ. Anh cười: “Nó cũng thấy giấy không ăn được.”
Họ lên đường cùng một chuyến hàng. Trước khi rời cổng, Thanh Nghi hỏi bàn thư xem có tin mới từ Hắc Nha Pha không. Người trực bàn nói mảnh báo nàng gửi hôm qua đã giao cho chuyến đi, chưa có hồi âm. Nàng không chờ thêm; bà Từ đã dặn nếu nghỉ muộn, tới trạm núi lúc tối sẽ khó tìm chỗ cho Xám.
Dọc đường, bà Từ đi đều, không nói nhiều. Đến lúc nghỉ, bà tháo ống tre kiểm lớp vải ngoài, thấy còn khô mới đặt cạnh mình để ăn. Thanh Nghi hỏi bà có thường mang giấy đi xa không. Bà nói trước đây từng đưa sổ đến một nơi đối việc giao hàng, nhưng không phải lần nào cũng dùng cùng cách. Giấy mỏng thì cần tránh gấp, sổ dày lại phải tính trọng lượng.
“Nếu ta đi một mình hôm nay, có thể nhanh hơn,” bà nói. “Nhưng tới trạm mà không có cô, ta chỉ đưa được giấy ra xem, không thay cô quyết định nhận lệnh.”
“Còn nếu ta đi một mình, ta chỉ có bản trích.” Thanh Nghi nhấp nước. “Đi cùng nhau chậm hơn một chút, nhưng khi tới có thể đối cả hai.”
Hổ mở túi lương, lấy bánh chia. Bà Từ nhận một phần, hỏi chiếc bọc riêng để làm gì. Anh nói đó là phần dành cho một người bạn đang chờ. Bà nhìn cái bánh, bảo bọc thêm lớp giấy sạch để khỏi dính mùi cỏ. Anh làm theo, rồi đặt túi bánh xa bó cỏ trên lưng Xám.
Chiều, họ đến trạm núi. Người giữ thư tại đây đã nhận được tin từ Hắc Nha Pha: bên gửi đồng ý giữ chiếc bao trong khoảng năm ngày ghi trên giấy; một người thay ông Phùng dự định tới làm việc. Mảnh tin không ghi giờ người ấy đến.
Thanh Nghi đếm số ngày còn lại, rồi nhìn bà Từ. Nếu sáng mai đi sớm và đường thuận, họ có thể đến trạm kho trước khi hết hạn. Nhưng lời ấy chỉ là dự tính; họ vẫn phải hỏi tin đường. Hổ tới bàn hàng, gặp một người vừa đi từ phía dốc lên. Ông nói đường qua được trong ngày, có đoạn phải tránh xe chở ván, không gặp mưa lớn. Ông không biết ngày mai thế nào.
Họ quyết định ngủ lại một đêm. Bà Từ gửi lời về ngoại viện qua chuyến quay đầu, báo mình đã tới trạm núi cùng giấy. Thanh Nghi viết cho bà quản kho, nói bản gốc đang do bà Từ mang và nhóm dự định đi tiếp sáng mai. Nàng đề nghị báo người thay ông Phùng để cùng đối khi tới, nếu người ấy đã đến.
Bảo nhận mảnh tin của nàng vào cuối buổi chiều hôm sau. Khi ấy hắn đang ngồi ở quán, vừa bóc xong một củ khoai. Dư An đọc trước để chắc tên người nhận, rồi đưa hắn xem. Bảo tìm ngay chữ “bản gốc” và hỏi:
“Họ đã tới chưa?”
“Thư nói đang ở trạm núi, dự định đi tiếp. Chưa nói đã tới.”
Bảo đặt củ khoai xuống, chạy ra hỏi bà chủ quán còn phòng không. Bà bảo vẫn giữ phòng nhỏ cho hai người như đã hẹn; nếu thêm ba người, bà phải xem khách đang trọ rời lúc nào. Hắn giải thích có Hổ, Thanh Nghi và người mang giấy, rồi nhận ra mình chưa hỏi người mang giấy có nghỉ tại quán không.
Bà chủ không cười hắn. Bà ghi có thể cần thêm phòng, hẹn khi khách tới sẽ bàn. Bảo trở về, thấy Ô Kê đang mổ củ khoai bỏ dở. Hắn kéo đĩa lại, chia một mẩu nhỏ rồi ăn nốt.
Hôm đó người được cử thay ông Phùng cũng tới kho. Ông tên Khâu, mang giấy của chủ hàng và bản biên bản ông Phùng bàn giao tại trạm núi. Bà quản kho đối tên và số hòm, sau đó mời Dư An cùng Bảo đến nghe, vì Thanh Nghi còn trên đường.
Ông Khâu nói mình được phép xem giấy đối chiếu và báo kết quả cho chủ hàng. Về việc giao chiếc lệnh, giấy ông mang chỉ cho phép ông đồng ý nếu chứng cứ và sổ giao nhận làm rõ việc chiếc bao đã vào chuyến hàng như thế nào; nếu còn bất đồng, ông phải báo lại. Ông không đưa ra lời hứa thay chủ hàng trước khi xem giấy.
Bảo hỏi ông có mang sổ của điểm tập kết không. Ông đáp không, nhưng đã nhắn người phụ trách tìm bản liên quan. Ông cho xem một bản chép mục đóng hòm, có ký hiệu người giao và ghi “theo kê”. Bà quản kho đối với bản chép của trạm, thấy số hòm và ngày chuyển phù hợp. Hai tờ vẫn không ghi ai sở hữu chiếc lệnh trước khi nó vào bao.
“Thư gửi Thanh Nghi đã tra được ký hiệu,” Bảo nói. “Nàng chưa về nên cháu không biết trong thư viết cụ thể thế nào.”
Ông Khâu gật đầu. “Ta sẽ chờ nàng, và hỏi lại người ở điểm tập kết.”
Bảo muốn kể thêm điều mình đoán về người áo xám, nhưng nhớ lời Thanh Nghi. Hắn nói rõ chỉ thấy kẻ đó lấy chiếc bao và đi lên mái, không thấy mặt. Bà quản kho ghi lời hắn cùng việc ông Khâu đã tới, rồi hẹn khi Thanh Nghi về sẽ mời các bên đối giấy.
Tối ấy, Bảo đặt chiếc bát cho Ô Kê dưới mái. Hắn nhìn con đường qua cổng, tính quãng từ trạm núi như đã tính nhiều lần. Dư An đưa hắn bát canh, bảo ăn khi còn nóng. Hắn nhận, vừa thổi vừa hỏi có nên để thêm một ngọn đèn ngoài hiên không.
“Để làm gì?”
“Nếu họ về tối, sẽ thấy đường vào.”
Bà chủ quán nghe vậy nói có thể treo đèn ở cổng, nhưng chưa cần thắp từ bây giờ. Bảo giúp bà lau chụp đèn, đặt dầu sẵn. Khi màn đêm xuống, bà tự thắp rồi treo lên móc. Ánh đèn không chiếu tới khúc rẽ xa, chỉ đủ sáng khoảng sân trước cửa.
Bảo đứng nhìn một lát rồi quay vào ăn cơm. Hắn không biết tối nay Hổ và Thanh Nghi có tới không. Trên bàn, hắn để sẵn mảnh giấy ghi tin ông Khâu đã đến, bên cạnh bản chép ngày giữ bao. Khi họ về, hắn có thể đưa ngay mà không phải nhớ trong lúc vừa mừng vừa nói.