Chương 465: Người Buộc Dây Trở Về
Người phụ việc ở cửa biển về trước khi trời sáng.
Anh tới bằng chiếc xe chở muối, trên vai còn vết hằn của dây hàng. Bà Liên gặp anh ở trạm, đưa sợi dây tìm thấy dưới lưới ra hỏi. Anh cầm, xoay nút giữa hai ngón tay.
“Tôi buộc cái này.”
Bà không nói ngay. Bảo đứng bên cạnh, nhìn đầu dây xơ. Hắn đã nghĩ có thể người chở hàng buộc nhầm, hoặc dây trôi từ đâu tới. Bây giờ người buộc dây đang đứng trước mặt, nhưng hắn vẫn chưa biết vì sao.
“Tên anh là gì?” hắn hỏi.
“Thành. Tôi thay dây gần một tháng trước. Khi đó dây cũ sờn, lưới bị kéo lệch.”
“Anh có ghi trong sổ không?”
“Tôi ghi đã thay dây. Nhưng tôi không ghi đã đổi nút.”
Bà Liên hỏi vì sao đổi. Thành nói dây còn lại trong hộp ngắn, nút cũ không giữ được hai đầu. Anh dùng cách buộc quen khi chở hàng, kéo thử thấy chắc nên để lại. Anh không xuống kiểm sau khi đi; lượt sau anh được nhờ đưa muối lên trạm, rồi đường mưa làm chuyến về chậm.
“Anh có thấy lưới rách không?” bà hỏi.
“Lúc tôi buộc thì chưa thấy. Rong mắc ở mép, tôi đã gỡ.”
Bảo nhớ chiếc lưới cũ có một lỗ lớn. Hắn muốn hỏi có phải nút ấy làm lưới lệch, nhưng Ninh đã nói chưa đủ để biết. Hắn chỉ hỏi Thành có muốn đến cửa xem vị trí dây và lưới được giữ lại không. Thành đồng ý, xin ăn một bát cháo trước vì đã đi cả đêm.
Chủ quán múc cháo, thêm ít hành. Thành ăn nhanh, nhưng đến nửa bát thì dừng để thổi. Bảo ngồi đối diện, nhìn hơi nóng bốc lên và nhớ mình chưa ăn sáng. Hắn mua một chiếc bánh bằng tiền công hôm qua, bẻ cho Ô Kê một mẩu. Con gà ngoạm cả mẩu lẫn ngón tay; hắn rút tay về, không làm rơi bánh.
Phong đưa họ ra mỏm đá khi nước vừa xuống. Thành ngồi cạnh mũi thuyền, chỉ vị trí đã buộc dây. Vĩnh đứng ở hiên, đưa thẻ ca cho người trực sáng rồi theo bà Liên xuống xem từ thuyền. Bảo ở trên ghi giờ như lần trước; Thanh Nghi đứng cạnh hắn, mang bản chép ngày thay dây.
Thành nhìn khung lưới mới và tấm lưới cũ đặt trong rổ. Anh chỉ chỗ mép lưới có vết cọ vào đá. Nút hai vòng từng nằm sát mép ấy, khiến đoạn dây ngắn hơn cách buộc Kha làm. Khi nước kéo mạnh, khung có thể lệch về phía đá.
“Có thể là vì thế,” anh nói. “Tôi không thấy nó lệch lúc buộc.”
Phong kiểm hướng nước, nói cũng có thể rong đã kéo khung xê trước. Ninh ghi cả hai điều: dây ngắn hơn cách buộc cũ và rong phủ gần nửa lưới khi tìm thấy. Bà không kết luận thứ nào xảy ra trước.
Thành xin xem cuốn sổ sửa lưới. Trong dòng anh viết chỉ có ngày thay dây và chữ *đã kiểm*. Anh đặt ngón tay lên chữ cuối, rồi rút ra.
“Tôi đã kiểm bằng tay, không nhìn lại sau khi nước lên. Viết thế này khiến người sau nghĩ tôi đã kiểm cả lúc nước chảy.”
Vĩnh đưa bút, bảo anh có thể viết thêm lời giải thích và ngày hôm nay. Thành viết, ký tên. Anh không gạch dòng cũ, cũng không nói mình chắc chắn đã gây ra việc nước hạ. Bà Liên đọc lại, hỏi anh muốn gửi bản ấy tới người giữ kho và Tề không. Anh đồng ý nếu ghi rõ điều chưa chắc.
Bảo nhìn Thành. “Anh có sợ bị bắt đền không?”
“Có.” Anh nhìn về phía bát nước. “Nhưng nếu tôi im, người sau lại dùng nút này.”
Hắn nhớ lần mình nhấc đá ở rãnh nước làm bùn chảy về bậc cửa nhà người khác. Khi đó hắn đã xin lỗi và cùng người chủ nhà sửa dòng. Lần này Thành không thể quay lại lúc nước bắt đầu xuống; anh chỉ có thể nói mình đã làm gì và giúp người trực xem tiếp.
Ninh đo bát bằng ống đồng. Dấu hôm nay cao hơn lượt tối một chút. Bà nói mực đang nhích lên qua ba lần đo sau khi thay lưới, nhưng còn phải theo dõi. Vĩnh hỏi có nên khôi phục mức cấp cho xóm như cũ không. Ninh đáp không thể dùng một con số để quyết việc ấy; người trực, người nhận và trạm cần cùng xem lượng dự phòng và lịch giao.
Bà Liên lấy tờ giấy Bảo kẻ hôm qua: đã xác nhận, cần xác nhận, giờ nhận tin. Bà đã nhờ người ở xóm tập hợp số gạo và dầu dự phòng. Giờ hẹn ở trạm gần tới, nhưng người mang tin chưa đến.
“Tôi đi tìm,” Thành nói.
“Anh vừa về,” Vĩnh nhắc. “Có cần ngủ trước không?”
“Tôi có thể đi tới xóm rồi ngủ ở nhà chị tôi. Đường không qua bãi nước.”
Bà Liên viết một mẩu ngắn, nhờ anh đưa người nhận ở xóm: nếu chưa kịp đủ số, xin báo phần đã biết trước giờ hẹn. Thành gấp giấy bỏ vào túi áo, để lại sợi dây trên đĩa. Trước khi đi, anh hỏi Bảo có muốn gửi gì không. Hắn đưa nửa chiếc bánh còn lại. Thành nhận, nói sẽ trả bằng một nắm gạo khi có dịp.
“Anh trả bánh cũng được,” Bảo nói.
“Vậy nếu tôi ăn hết trên đường?”
“Thì nhớ đường về quán, chủ quán bán bánh.”
Đến trưa, mực nước không xuống thêm. Vĩnh cho cô gái trực sáng về nghỉ, nhận lượt tiếp theo. Ninh đưa ông ống đồng xem dấu vừa đo, nói bà cần kiểm lại dụng cụ ở trạm để chắc vạch không bị muối làm sai. Bà sẽ quay về trước tối.
Thanh Nghi đi cùng Ninh. Nàng muốn hỏi người phụ trách bảng cấp liệu bản đối phiếu đã tới điện chưa. Bảo ở lại với bà Liên, giúp ghi số và đun nước. Hắn xin bà dạy cách phân biệt hai loại dầu: dầu cho đèn ở cửa và dầu sinh hoạt cho xóm. Hai thứ được để ở bình khác nhau, nhưng nắp giống; bà chỉ dấu khắc trên quai, rồi bắt hắn tự chọn lại khi hai bình đặt đổi chỗ.
Hắn chọn sai lần đầu.
“Con nhìn màu dây,” bà nói. “Dây có thể thay. Dấu trên quai mới là thứ chúng ta dùng để phân biệt.”
Lần thứ hai hắn chọn đúng. Ô Kê nhảy lên bàn, mổ vào đầu bút. Bảo nhấc nó xuống, nhưng trên giấy đã có một vệt mực. Hắn viết vòng quanh vệt ấy, ghi rõ mình đang tập nhận bình, không phải dòng giao dầu thật.
Giữa chiều, Thành trở lại cùng một cô gái trẻ cầm sổ của xóm. Cô nói ba nhà đã báo lượng dự phòng; hai nhà đi biển chưa về, không thể hỏi ngay. Cô ghi con số của ba nhà và để trống hai dòng. Bà Liên xem, hỏi cô có biết nhà người bệnh đã nhận gạo hoàn không. Cô đáp biết, nhưng chưa tính vào phần dự phòng chung vì người nhà chưa đồng ý nhập.
Bảo nhìn hai dòng trống. Hắn nhớ người phụ trách trạm muốn một số trước giờ hẹn. Cô gái có thể cộng ba số thành tổng tạm, nhưng nếu gọi đó là tổng cả xóm thì hai nhà vắng mặt sẽ biến mất khỏi bảng.
“Ghi số của ba nhà, thêm hai nhà chưa hỏi được,” hắn nói.
Cô viết như vậy và ký tên. Bà Liên hỏi ai mang tới trạm; Thành nhận đi, còn cô gái trở về đón người đi biển. Hắn đã chưa ngủ, Bảo đưa mắt nhìn bà Liên. Bà hỏi anh có thể nhờ người khác không. Thành nghĩ một lúc, nói sẽ đưa giấy đến quán nhờ Phong, rồi về nhà ngủ. Họ không ghi anh sẽ tự đưa đến trạm nếu anh chưa chắc.
Cuối chiều, Thanh Nghi và Ninh trở lại. Người ở trạm đã nhận bản giải thích phiếu, nhưng điện chưa trả lời việc sửa bảng tổng. Người phụ trách chuyến đầu đồng ý ghi số của ba nhà đã báo và giữ phần dự phòng của kho chưa phân cho ai, cho tới khi nhận thêm tin trước giờ hẹn. Ông Sửu cũng gửi giấy xác nhận lượng gạo có thể dùng cho chuyến đầu.
Bảo hỏi: “Nếu hai nhà kia không về kịp?”
“Ông ấy sẽ cùng người nhận xóm quyết khoản dự phòng,” Thanh Nghi đáp. “Không lấy ba nhà làm đại diện cho cả xóm.”
Ninh kiểm ống đồng ở trạm, dấu đo vẫn giữ được. Bà đo lại bát: nước lên thêm nhưng chưa tới vạch giữa. Bà ghi kết quả rồi hỏi bà Liên có muốn tiếp tục đo đêm nay không. Bà Liên nói có; nếu nước lại xuống, người trực sẽ gọi. Nếu không đổi, sáng mai họ có thể bàn chuyện tiếp theo với người ở xóm.
Bảo mở tờ giấy Mộc để lại, viết một dòng: *Thành buộc nút mới vì dây ngắn; chưa biết lưới lệch do dây hay rong.* Hắn đọc cho Thành nghe khi anh ghé quán lấy chăn. Anh xin thêm rằng mình đã không ghi đổi nút vào sổ lần trước. Bảo viết thêm, đưa anh xem.
Tối ấy, chủ quán dọn cháo cá. Bảo ăn hai bát, dùng một ít tiền công mua bát thứ ba. Ô Kê đứng dưới bàn, chờ hắn bẻ cá; hắn đặt một miếng nhỏ xuống, giữ phần xương trong bát.
Thành ngủ ở gian bên, chiếc áo ướt đã được treo gần bếp. Ngoài cửa, Phong mang mảnh giấy của xóm tới trạm. Bảo nhìn theo, rồi gấp tờ giấy của mình lại. Sợi dây vẫn nằm trong chiếc đĩa ở nhà mái đen, nút hai vòng được giữ nguyên.