Chương 473: Mặt Sau Của Trang Sổ
Sáng hôm sau, người sửa giấy mang tới một tấm lót mới.
Bà đặt trang sổ vừa được tách lên bàn cạnh cửa sổ. Mép giấy khô hơn hôm qua, nhưng ở giữa vẫn có một đường gấp cứng. Bà Mạnh, Thanh Nghi và Bảo ngồi quanh bàn; Hổ nhận ca ở giếng, nói đến lúc đổi lượt sẽ vào xem.
Bảo lấy bản dập bệ đá ở Thái Huyền ra. Trịnh đã cho phép gửi người làng, kèm chú thích rằng đội chưa biết pho tượng từng đứng ở bệ ấy hay không. Hắn đặt bản dập cách trang sổ một khoảng, đợi người sửa giấy xem nơi nào có thể chèn tờ lót.
“Mặt sau có chữ không?” hắn hỏi.
“Có vài nét. Ta chưa lật vì góc dưới còn dính.”
Bà dùng một miếng giấy mỏng luồn qua mép, tách được phần đã khô. Khi trang sổ được lật, mặt sau hiện ra một đường kẻ và ba cột. Hai cột đầu còn chữ, cột cuối mất một góc.
Bà Mạnh đọc: “Nơi gửi, người đưa, nơi nhận.”
Dưới dòng *nơi gửi* là chữ cửa chín. Dòng *người đưa* có một tên ngắn, mực đã phai nhưng còn đọc được. Ở cột *nơi nhận*, cạnh nét cong giống sóng có chữ *bến*, phần sau mất theo mép giấy.
Bảo nghiêng đầu. “Bến trong?”
“Chưa đủ chữ,” Thanh Nghi nói. “Ta chỉ thấy chữ bến.”
Hắn lùi lại. Bà Mạnh mở bản chép của người giữ sổ sau Mộc: hai vòng nhỏ từng được gọi là bến trong. Nét ở trang mới có một đường cong và một nét ngắn, không phải hai vòng. Có thể người viết dùng hai dấu cho hai nơi, hoặc nét thứ hai đã mất. Không ai ghép chúng lại bằng trí nhớ.
Người sửa giấy chỉ một chấm mực gần tên người đưa. “Chỗ này có thể đọc rõ hơn ở bản gia đình. Bà ấy từng chép mặt sau không?”
“Ta sẽ hỏi,” bà Mạnh đáp.
Bảo nhìn cái tên. Hắn chưa nghe ai trong làng gọi như vậy. Hắn hỏi bà Mạnh có nhớ người đưa không. Bà đọc tên thành tiếng, nghĩ một lúc rồi nói có một người mang hàng qua trạm thuở bà còn nhỏ, nhưng bà không chắc là cùng người.
“Lão Kỷ có thể nhớ?” hắn hỏi.
“Có thể. Hôm nay ông ở nhà, nếu con muốn thì mang bản chép sang hỏi.”
Thanh Nghi vẽ lại riêng dấu và chép tên người đưa. Nàng không sao số phần vì người con cả của gia đình giữ bản cũ chưa đồng ý chia sẻ ngoài những người đang đối sổ. Bà Mạnh đọc lại tờ chép rồi đặt vào tay Bảo.
Trên đường tới nhà lão Kỷ, hắn gặp Tín đang xách hai xô nước. Cậu hỏi hắn đi đâu. Hắn nói sang hỏi một cái tên, rủ cậu đi cùng nếu đã xong việc. Tín đưa một xô cho hắn, bảo phải mang nước về bếp trước. Ô Kê đi theo, thấy nước liền nhảy lên mép xô. Bảo kéo nó xuống trước khi chân gà chạm nước.
“Ngươi vừa được ăn cá rồi.”
Nó kêu một tiếng, chạy sang bên xô của Tín. Cậu nâng xô lên cao, bước nhanh vào sân. Bảo theo sau, không để con gà có cơ hội chọn lại.
Lão Kỷ đang ngồi gọt cán cuốc. Ông nhận tờ giấy, đọc tên rồi đặt dao xuống.
“Ta biết một người như thế. Hồi ấy anh ta chở hàng qua đường núi, không ở làng. Mỗi lần tới đều xin nước ở quán bà Mạnh.”
“Ông ấy có đi đường biển không?”
“Ta chỉ thấy anh ta từ phía trạm tới. Anh nói có chuyến phải giao ở bến, nhưng không nói bến nào.”
Tín hỏi còn ai nhớ người ấy không. Lão Kỷ nói Thôi thúc từng bán thịt cho anh ta; nếu ông còn nhớ, có thể hỏi. Nhưng Thôi thúc vẫn đang hồi sức, không nên kéo ông dậy chỉ để hỏi một cái tên.
Bảo gật. Hắn định cất giấy thì lão Kỷ gọi lại.
“Trên tờ của ngươi, cạnh tên có dấu gì?”
“Một nét cong chưa đủ. Chúng con chưa biết nghĩa.”
Lão nhìn thật gần, rồi lấy que vẽ trên nền đất hai vòng nhỏ cạnh một đường nước. “Người chở hàng từng vẽ dấu hai vòng trên bao khi gửi qua bến trong. Ta nhớ vì ông chủ xe hỏi có phải hai chiếc bánh không.”
“Có giống dấu này không?” Bảo đưa bản chép của gia đình người giữ sổ.
“Gần giống. Nhưng dấu ta thấy trên bao không có nét cong bên cạnh.”
Tín ngồi xuống nhìn. “Vậy cái tên có thể là cùng người, nhưng dấu chưa khớp.”
“Đúng,” lão Kỷ nói. “Đừng ghi rằng ta đã thấy nét cong.”
Bảo bổ sung lời ông vào tờ giấy, giữ riêng với điều viết trong sổ. Lão xem, gật rồi trả lại. Ông còn nhớ người chở hàng từng làm rơi một đồng tiền ở quán; bà Mạnh nhặt hộ, anh ta quay lại nhận sau ba ngày. Hắn hỏi có phải đồng của Mộc không. Lão bật cười.
“Làng có nhiều đồng tiền hơn con tưởng.”
Trưa, họ gặp Thôi thúc đang ngồi ở hiên, người chăm ông đặt bát canh trên bàn. Bảo hỏi ông có mệt không. Ông đáp vừa ngủ dậy, đủ sức nghe vài câu. Tín đưa bản chép tên người chở hàng; Thôi thúc nhìn rồi gật.
“Anh ta mua thịt nạc, bảo phải đi đường dài.”
“Ông có nhớ anh đi bến nào không?”
“Ta nhớ anh hỏi đường sang bến trong. Nhưng không nhớ anh có tới đó hay không.”
Bảo thấy hai chữ ấy một lần nữa. Hắn hỏi bến trong nằm ở đâu. Thôi thúc chỉ hướng qua dãy đồi, rồi dừng tay. “Đường cũ có một con suối. Sau đợt mưa lớn, người ta đổi lối. Ta không đi từ lâu.”
Người chăm ông lấy giấy vẽ lại hướng Thôi thúc vừa chỉ. Ông xem, sửa con suối sang bên trái dãy đồi. Ông không nhớ tên trạm gần nhất. Bảo xin phép ghi lời ông vào bản chép; ông đồng ý, dặn ghi cả điều không nhớ.
Lúc họ trở về từ đường, người con cả của người giữ sổ đã mang một gói giấy từ nhà. Trong đó có mẩu giấy mẹ người ấy từng giữ: một bên ghi ngày, bên kia là dấu hai vòng và một nét ngắn. Không có tên người chở. Giấy nói một phần đã được gửi qua bến trong, nhưng không ghi nơi nhận sau bến.
Bảo đặt mẩu ấy cạnh trang sổ. Ngày trên mẩu giấy cùng tháng với dòng chuyển phần, nhưng phần ngày cụ thể trên trang sổ bị mất. Bà Mạnh bảo có thể đối tiếp các lượt khác, chưa thể coi hai giấy nói cùng một chuyến.
Thanh Nghi hỏi người con cả có muốn cho Trịnh ở tông xem bản chép dấu không. Người ấy đồng ý với hình dấu và phần chữ *qua bến trong*, không gửi số phần hay tên gia đình. Nàng chép đúng phạm vi ấy, ghi nguồn là bản gia đình.
“Con có thể đưa thêm tên người chở không?” Bảo hỏi.
“Phần tên ấy nằm trong sổ làng,” người con cả đáp. “Bà Mạnh và người đang giữ sổ quyết.”
Bà Mạnh xem, nói có thể gửi tên để đội kiểm tuyến hỏi ở các trạm, kèm lời lão Kỷ và Thôi thúc chỉ nhớ một người cùng tên, chưa chắc là người trong sổ. Hổ vừa đổi ca vào, nghe xong đề nghị ghi thêm tuyến đường họ nhớ có thể đã đổi sau mưa. Thanh Nghi thêm điều ấy vào thư.
Người sửa giấy quay lại, nói có thể giữ hai mảnh sổ trong một tấm lót, không dán vào nhau. Bà làm, để khoảng thiếu giữa chúng nhìn rõ. Bảo hỏi bao lâu nữa trang sau có thể mở. Bà đáp cần thêm một ngày hong; nếu kéo sớm, có thể mất cả chữ còn lại.
Hắn gật, dù muốn xem ngay. Hắn có thể chờ một ngày; người giữ sổ trước đã chờ chìa nhiều năm mà không được xem. Hắn không muốn vì mình vội mà người sau chỉ còn một mảnh giấy rách hơn.
Chiều xuống, người của trạm tới nhận thư. Bà Mạnh gửi Trịnh bản chép dấu, tên người đưa và các giới hạn trong lời kể; người con cả ký vào phần gia đình cho phép chia sẻ. Bảo gửi thêm lời cảm ơn tới người đầu tiên đã thấy dấu than dưới hầm, nhờ Hứa Đồng chuyển.
Người trạm nhận hai phong bì, đọc tên và nơi gửi. Anh hỏi có cần chuyển gấp không. Bảo nói chuyến thường cũng được, trừ khi đội đang chuẩn bị vào đường hầm. Anh không biết lịch của đội, nhưng sẽ ghi câu hỏi để trạm tiếp theo lưu ý.
Tín bưng nồi canh cá ra. Lần này cậu nếm trước, thêm nước rồi mới mời mọi người. Thôi thúc không tới được, người chăm ông đã mang một bát về. Bảo ăn hai bát cơm, vẫn thấy đói; bà Mạnh đưa hắn phần cá còn lại và hỏi có muốn thêm cơm không. Hắn gật, tự xới, để lại một ít cho Hổ vừa hết ca.
Sau bữa ăn, Thanh Nghi trải bản đề án chưa quyết của điện. Nàng kẻ một dấu ở chỗ quyền chuyển khẩn và một dấu khác ở khoản công người thay ca. Bảo hỏi nàng có định trả lời ngay không. Nàng nói muốn nghe những người còn lại ở làng trước, nhất là bác giữ dây và người chị, vì họ đang nhận việc.
“Cô vẫn muốn đi cuộc gặp lần sau?”
“Có. Nhưng ta muốn mang câu trả lời của mình, không chỉ mang câu hỏi của người khác.”
Nàng viết một dòng riêng rồi gấp lại. Bảo không đọc. Hắn lấy tờ giấy Mộc để lại, thêm hai chữ *bến trong* và ghi cạnh đó: *chưa biết nơi nhận cuối*. Sau đó hắn đặt bút xuống.
Ngoài sân, Ô Kê đang đuổi theo chiếc lá dính ở đuôi mình. Nó quay hai vòng, dừng lại khi thấy Bảo nhìn. Hắn nhặt chiếc lá, nhưng con gà đã chạy sang bậc cửa. Trên bàn, hai mảnh giấy nằm trên tấm lót, khoảng trống ở giữa vẫn còn nguyên.