Chương 295: Tờ Nhận Trong Bó Giấy
Đoàn người rời trạm núi vào buổi sáng. Lâm Hổ dắt Xám đi sau một chiếc xe chở vải; Lục Thanh Nghi theo cạnh anh, trong áo giữ bản biên bản mở hòm và lá thư từ ngoại viện.
Hôm trước, từ Hắc Nha Pha tới đây, họ đi cùng đoàn trên đoạn đường còn ướt. Người dẫn đoàn bảo đường về ngoại viện đã có người qua, song đến ngã rẽ vẫn phải hỏi lại. Xám không mang chiếc nồi hay lồng gà, chỉ có lương, nước và ít đồ của hai người. Đi nhẹ hơn thường ngày, nó vẫn dừng để ngửi từng bó cỏ bên đường.
Hổ kéo dây, nói nhỏ: “Không phải bó nào cũng là của ngươi.”
Thanh Nghi nhìn con la ngẩng đầu. “Nó đang tìm bó của mình.”
“Nó tìm rất kỹ.”
Đến ngã rẽ, hai xe tách về phía chợ. Hổ và Thanh Nghi cảm ơn người dẫn đoàn rồi tiếp tục theo lối tới ngoại viện. Một người gánh nước đi ngược chiều chỉ cho họ con dốc còn lầy, dặn tránh mép ruộng vì đất mềm. Thanh Nghi nhớ đoạn đường này khi trời khô, nhưng vết bánh xe hôm nay đã thành hai rãnh sâu. Nàng cùng Hổ dắt Xám đi giữa, đến chỗ bùn ngập mới xuống lối cỏ bên trong.
Buổi chiều, cổng ngoại viện hiện ra sau hàng cây. Thanh Nghi dừng lại nhìn một lát. Họ vừa đi khỏi nơi này chưa bao lâu, nhưng lần trở lại không nằm trong dự định. Hổ hỏi nàng có muốn nghỉ trước không; nàng lắc đầu, bảo chỉ cần tìm được người nhận thư rồi mới yên tâm ăn cơm.
Người quen nàng nhờ tìm giấy đã để lời ở bàn nhận. Biết Thanh Nghi tới, người trực cửa dẫn nàng đến phòng bên sân, nơi người phụ trách giấy cũ đang chờ. Hổ đưa Xám tới chỗ buộc, đặt bình nước trước mặt nó rồi mới theo vào.
Trên bàn là một quyển sổ và một bó giấy buộc dây. Người phụ trách mở sổ trước, chỉ dòng ghi số mười bảy. Tên Lục Thanh Nghi nằm ở cột người nhận. Bên cạnh là ngày giao và một ký hiệu dẫn tới tờ nhận riêng.
Nàng nhìn nét chữ của người ghi, rồi đối ký hiệu với tờ giấy được lấy ra từ bó. Tờ ấy đã ngả màu, mép dưới gấp một đường. Trên đó có tên nàng, số lệnh và chữ ký nhận. Nàng không chạm ngay; người phụ trách đặt giấy lên tấm vải, mời nàng xem kỹ.
“Là chữ ký của ta,” nàng nói. “Ngày và số cũng khớp với sổ.”
Hổ đứng cạnh cửa, nghe nàng nói mới bước tới. Anh thấy cạnh chữ ký có một nét mực đậm hơn những nét còn lại, như bút đã dừng một chút. Thanh Nghi đưa ngón tay chỉ cách mặt giấy một khoảng.
“Khi ấy ngòi bút vướng ở đây. Ta nhớ vì phải ký lại nét cuối.”
Người phụ trách lật mặt sau của tờ nhận. Có dấu lưu và một dòng ngắn ghi vị trí trong bó giấy. Ông giải thích đây là bản lưu của nơi giao, được giữ cùng các tờ khác. Tờ có chữ ký của Thanh Nghi và mục trong sổ giúp đối nhau; riêng việc chiếc lệnh sau đó bị lấy ở kho giấy vẫn cần những lời trình bày và biên bản ở trạm.
Nàng đưa bản biên bản mở hòm cho ông xem. Ông đọc phần mô tả chiếc lệnh và đặc điểm đã được ghi trước khi mở, rồi trả lại. Nàng hỏi liệu có thể đưa tờ nhận gốc đến trạm kho để các bên đối trực tiếp.
Người phụ trách không trả lời ngay. Ông hỏi ngày cần có mặt, ai sẽ giữ giấy trên đường và khi đối xong bản lưu được đưa về thế nào. Thanh Nghi nói rõ thời hạn giữ chiếc bao đang tính đến đâu, thừa nhận nàng chưa chắc có đủ thời gian đi về. Nàng đề nghị nếu được mang giấy, nàng và Hổ sẽ đưa đi trong bìa cứng; khi đối xong sẽ trả lại ngoại viện theo ngày được ghi.
Ông nhìn tờ giấy, rồi bảo cần hỏi người chịu trách nhiệm phòng lưu. Ông có thể lập một bản trích ngay hôm nay, ghi đúng nội dung tờ nhận và mục trong sổ, kèm chữ ký xác nhận. Nhưng bản trích không phải tờ gốc, và việc cho mượn tờ gốc phải do người có trách nhiệm quyết định.
Hổ nhìn Thanh Nghi. Nàng gật đầu: “Xin làm bản trích trước. Ta sẽ chờ lời về tờ gốc.”
Trong lúc người phụ trách chép, Hổ ra sân xem Xám. Nó đã uống hết nửa máng, đang cố với tới bó cỏ của con vật bên cạnh. Anh kéo máng cỏ lại gần, chặn không để nó ăn phần của con kia. Một người phụ trách sân hỏi anh đi đường nào về; Hổ kể chỗ bùn ở ngã rẽ, nhắc đường qua được lúc họ vừa đến, còn trời tối có đổi hay không anh không biết.
Thanh Nghi bước ra sau đó. Trên tay nàng là bản trích mới, mực đã khô, ghi số lệnh, tên người nhận, ngày và ký hiệu của tờ lưu. Người phụ trách ký tên và ghi nơi đang giữ bản gốc. Nàng không gấp ngay mà kẹp vào hai tấm bìa mỏng, hỏi Hổ có dây buộc không. Anh lấy đoạn dây sạch từ túi lương, buộc bìa vừa đủ chặt.
“Người giữ phòng lưu đang ở sân phía sau,” nàng nói. “Ta đã nhắn, lát nữa gặp được.”
Hổ hỏi nàng đã ăn gì chưa. Nàng nói trên đường có nửa cái bánh, nhưng lúc nhìn thấy tờ nhận lại quên cả đói. Anh đưa nửa cái còn lại của mình. Nàng bẻ một miếng, rồi đẩy phần lớn trả lại.
“Ngươi cũng đi cả ngày.”
“Ta đã ăn phần của ta. Đây là phần mua thêm.”
Nàng nhận, hỏi có phải anh mua để mang về cho Bảo không. Hổ thú nhận đã định thế. Hai người nhìn cái bánh còn một miếng, rồi cùng bật cười. Anh nói mai sẽ mua chiếc khác, miễn là tìm được chỗ bán trước khi lên đường.
Người chịu trách nhiệm phòng lưu đến khi nắng đã nghiêng. Bà xem sổ, tờ nhận và bản trích; nghe Thanh Nghi trình bày, bà hỏi thêm về nơi giữ chiếc lệnh hiện tại. Nàng đưa bản biên bản ở trạm, chỉ tên bà quản kho và những người ký chứng kiến.
“Bà ấy có thể đến đây đối giấy không?” người giữ phòng lưu hỏi.
“Ta chưa hỏi trực tiếp. Đường đi khá xa, còn thời hạn giữ bao đã bắt đầu tính.” Thanh Nghi không nói chắc bà quản kho không thể đi. “Ta có thể gửi thư hỏi, nhưng sợ câu trả lời đến muộn.”
Bà suy nghĩ, đề nghị hai cách: bản trích có xác nhận có thể gửi ngay để trạm biết nội dung; còn nếu cần bản gốc, bà có thể cử người mang cùng Thanh Nghi sau khi ghi rõ người nhận, đường đi và thời gian trả giấy. Người ấy sẽ giữ bản gốc, có mặt khi đối và mang về. Bà cần thu xếp người trước, chưa hứa ngày khởi hành.
Thanh Nghi nói cách ấy có thể đáp ứng việc đối trực tiếp. Nàng xin báo ngay cho trạm, đồng thời hỏi người được cử có thể tới gặp bà quản kho và bên gửi cùng lúc không. Bà đáp phải xem họ hẹn thế nào; nếu không gặp được, người mang giấy không thể để bản gốc lại tùy ý.
Hổ hỏi có nên tự mang bản trích về trước. Thanh Nghi nhìn lịch trên tường. Nếu một người đi trước, người còn lại phải chờ ở ngoại viện; họ sẽ tốn thêm tiền đường, và bản trích có thể được chuyển theo chuyến thư sớm hơn. Nàng chọn gửi bản trích bằng phong kín có ghi người nhận là bà quản kho, kèm thư nói rõ bản gốc còn ở ngoại viện và đang bàn cách đưa tới.
Người phụ trách sao thêm một bản cho Thanh Nghi giữ, đối từng dòng trước khi đóng dấu xác nhận. Bản gửi trạm được kẹp bìa, buộc dây và giao tại bàn thư. Người nhận ghi số phong, ngày và tên nơi nhận; Thanh Nghi giữ tờ xác nhận, không gọi đó là tin chắc giấy đã đến.
Khi trời sẫm, người quen tới gặp nàng, hỏi có cần chỗ nghỉ không. Người ấy đã giúp tìm bó giấy, biết đường tới phòng lưu nhưng không tự mở giấy của người khác. Thanh Nghi cảm ơn, kể đã thấy tờ có chữ ký và bản trích đang trên đường tới kho. Nàng xin người quen báo cho Hứa Đồng nếu gặp: Bảo vẫn ở Hắc Nha Pha cùng Dư An, đang chờ họ, chưa tiếp tục đường về làng.
Người quen nhận lời chuyển tin nếu gặp Hứa Đồng, không hứa gặp ngay. Hổ gửi kèm một câu rằng Xám vẫn khỏe, để Bảo biết nếu tin ấy tới trước họ. Thanh Nghi viết câu đó thành mảnh riêng gửi về bàn thư trạm; nàng thêm việc đã tìm được tờ nhận mang chữ ký của mình và đang thu xếp người mang bản gốc.
“Bảo sẽ hỏi bao giờ chúng ta về,” Hổ nói.
“Ta cũng muốn biết.” Nàng nhìn phong thư. “Nhưng hôm nay mới biết có người đang được sắp xếp. Ta không muốn hẹn ngày rồi để hắn chờ ở cổng.”
Hổ cất mảnh xác nhận vào túi. Hai người trả tiền cỏ và chỗ buộc Xám, rồi theo người quen đến nơi nghỉ. Trên đường, anh ghé mua thêm bánh; lần này anh lấy hai chiếc, bọc riêng một chiếc để dành cho Bảo.
Thanh Nghi nhìn anh buộc gói bánh. “Nếu đường về lâu, bánh sẽ cứng.”
“Vậy ta sẽ báo trước.”
“Báo điều gì?”
“Bánh vẫn ăn được, nhưng chưa thử làm chốt xe.”
Nàng cười, cầm giúp anh đầu dây. Trong túi áo nàng, bản trích được kẹp phẳng giữa hai tấm bìa. Tờ nhận gốc vẫn nằm ở ngoại viện; lần này nàng đã nhìn thấy chữ ký của mình và biết ai đang giữ nó.