Chương 461: Vạch Dưới Cùng
Bảo tỉnh giấc vì tiếng gõ cửa.
Ngoài trời còn tối. Chủ quán khoác áo ra mở; người đứng đó là cô gái nhận ca đêm ở mỏm đá. Mái tóc cô ướt, trong tay cầm chiếc đèn đã che kín bằng vải.
“Bát xuống dưới vạch thấp,” cô nói. “Đèn vẫn sáng, nhưng tôi đã gọi Vĩnh. Bà Liên có ở đây không?”
Bà Liên ngủ tại nhà mình. Chủ quán nhờ người hàng xóm đi gọi, còn Bảo đánh thức Thanh Nghi. Hắn muốn chạy ngay ra bãi, nhưng cô gái nói lối đá đang ngập; Phong đã được báo, sẽ tới bằng thuyền. Hắn chụp lấy túi giấy, rồi lại mở ra kiểm tờ tiền đường. Đồng tiền Mộc để lại vẫn nằm trong ngăn riêng.
“Con cầm theo làm gì?” Thanh Nghi hỏi.
“Con sợ để lại quán sẽ quên.”
Nàng không bảo hắn bỏ xuống. Nàng lấy áo khoác và bút, kiểm bản chép của Mộc ở ngăn khác, rồi cùng hắn ra bờ. Ô Kê đòi đi; Bảo đặt nó vào giỏ, buộc dây như lần trước. Nó cựa một hồi rồi đứng im.
Phong đưa thuyền tới cùng Vĩnh. Bàn tay bỏng của ông được băng mới, tay kia ôm hộp đèn dự phòng. Người trực đêm đi cùng họ trong chuyến đầu; Thanh Nghi và Bảo chờ lượt sau. Bà Liên vừa đến cũng không giành chỗ, chỉ đưa Vĩnh bản báo đã sửa và dặn ông gọi nếu cần bình dầu ở kho.
Bảo đứng nhìn ánh đèn trên thuyền xa dần. Hắn tưởng mình có thể chịu được việc chờ sau hai ngày ở biển, nhưng khi không nhìn thấy thuyền nữa, hắn bước ra mép nước. Thanh Nghi giữ vai hắn.
“Đá ướt.”
“Con biết.”
Hắn lùi lại, giận vì mình không làm được gì ngoài đứng đó. Nàng không nói thêm. Một lát sau, hắn tự đưa giỏ Ô Kê cho nàng giữ để đi tìm chiếc sào Phong thường đặt cạnh thuyền. Hắn dựng sẵn sào ở nơi khô, lúc Phong quay lại có thể lấy ngay.
Đến mỏm đá, họ thấy bát nước thấp hơn vạch dưới cùng một khoảng nhỏ. Trên tấm đồng, dấu nước của ba lượt trước được ghi bằng mực, không phải vết nước thật. Người trực đêm đã ghi giờ, gọi Vĩnh và kiểm đèn; bình dầu còn đủ cho lượt sáng.
Vĩnh chỉ tờ ghi. “Mực xuống sau khi gió mạnh lên. Ta chưa biết hai việc có liên quan không.”
Bảo nhìn ra biển. Sóng đánh vào bệ đá, nhưng không chạm tới bát. Hắn hỏi có nước rò không. Vĩnh kiểm vòng gỗ và đáy bát; phía ngoài khô. Ông không nhấc bát lên vì chưa biết làm thế có ảnh hưởng gì.
“Chúng ta có thể đổi sang bát khác không?” Bảo hỏi.
“Ở làng ngươi từng đổi à?”
“Có, khi bát cũ bị nứt. Nhưng người biết việc quyết định, và sau đó chúng con phải theo dõi lại từ đầu.”
Vĩnh nhìn bát. “Bát này chưa thấy nứt. Ta không muốn đổi chỉ vì nước xuống.”
Bà Liên đến sau, đọc từng dòng trong sổ ca. Bà nhờ người trực đêm về nghỉ, nhưng cô nói muốn ở lại tới khi giao xong tin cho người nhận lượt sáng. Hai người cùng kiểm đèn, rồi người trực sáng ký nhận. Cô gái mới chịu ngồi xuống ăn chiếc bánh chủ quán gửi.
Bảo lấy bản chép của Mộc ra. Trong đó có ghi một lần nước ở cửa chín xuống nhanh, nhưng không có cách làm nước tăng. Hắn đưa cho Vĩnh xem phần được phép chia sẻ. Ông đọc, hỏi có phải lúc ấy người giữ sổ đã đóng cửa không. Bảo kể Mộc từng đóng lối giữ sổ, không nói đó là đóng chính cửa chín.
“Chúng ta không nên khóa phòng này,” Vĩnh nói. “Người thay ca cần vào được.”
“Con không định bảo ông khóa,” Bảo đáp. “Con chỉ muốn xem có dấu nào giống không.”
Thanh Nghi chỉ hai nét trên bản chép. Một nét giống dấu ở tấm đồng cạnh bát, nhưng trên tấm đồng còn một nét ngắn phía dưới. Bà Liên bảo đó là dấu đã có từ khi bà nhận việc, người trước gọi nó là vạch thấp. Không ai biết nét ngắn ấy được thêm lúc nào.
Một tiếng gõ vang ở cửa. Ông Sửu tới cùng người trong kho, mang tin thuyền dầu lớn vẫn ở bãi bắc. Họ đã nhận được bốn bình hôm trước; sáng nay không ai đi thêm vì sóng chưa dịu. Ông cũng mang lời của người phụ trách cấp hàng: khoản gạo nhà người bệnh tự mua sẽ được hoàn bằng gạo từ kho, nếu người nhà đồng ý nhận như vậy.
Bà Liên nói phải hỏi người phụ nữ; hôm qua bà ấy chỉ nói đồng ý nhận tiền qua chủ quán, chưa nói nhận gạo. Ông Sửu nhận đi hỏi. Bảo muốn theo nhưng Vĩnh nhờ hắn ở lại giúp ghi giờ và mức nước cho người đang trực. Hắn đồng ý làm người ghi phụ, không đứng thay ca.
Họ xem lại ba lượt gần đây. Mực nước giảm ít vào hai lượt trước, rồi xuống nhanh hơn trong đêm. Dầu đèn được thêm sau lượt thứ hai, nhưng lượng dùng không khác nhiều. Thanh Nghi đặt bản ghi gió cạnh giờ đo; gió mạnh lên trước khi nước xuống, song không có đủ lượt khác để biết có phải nguyên nhân.
“Nếu không biết nguyên nhân, gửi tin thế nào?” Bảo hỏi.
“Gửi điều đã thấy,” bà Liên nói. “Không cần đợi biết hết.”
Vĩnh viết thư cho Tề: bát dưới vạch thấp, đèn còn sáng, người trực đã kiểm đáy bát và gọi thêm người; họ cần người có kinh nghiệm tới xem. Bảo nhờ ghi thêm rằng hắn không mang nồi tới và không biết cách chuyển phần từ cửa chín. Ông hỏi hắn có muốn ký dưới lời ấy không. Hắn ký.
Phong đưa người mang thư vào bờ. Lượt sau ông chở thêm một bình dầu dự phòng từ kho ra cửa. Bà Liên kiểm nắp, đặt bình cạnh bình hôm qua, nhưng vẫn không đổ thêm khi đèn còn đủ. Bảo nhận ra dầu chỉ giúp đèn cháy; bát nước thấp vẫn thấp.
Đến trưa, mưa ngừng. Ông Sửu quay lại cùng người phụ nữ có con bệnh. Bà đồng ý nhận gạo nếu lượng bằng phần đã mua; kho đã cân trước mặt bà và đưa giấy nhận. Bà mang một túi nhỏ, nói phần dầu dự phòng còn đủ đến khi trời sáng thêm một ngày. Bà hỏi bát nước xuống có làm nhà bà thiếu phần ngay không.
Vĩnh đáp ông không biết chắc. “Ta chưa thấy việc đó xảy ra ngay sau một lần bát xuống. Nhưng ta đã báo và đang tìm người biết cách xem.”
Bà phụ nữ im lặng, rồi hỏi có thể tới nghe khi người biết việc đến không. Bà Liên nói có thể; bà sẽ gửi tin qua quán. Bảo nhìn túi gạo trong tay bà. Khoản tiền bà phải bỏ đã được bù bằng gạo như bà đồng ý, nhưng không ai dùng nó để nói rằng chuyện ở cửa đã xong.
Buổi chiều, người trực sáng gọi mọi người ra hiên. Mực nước lại nhích xuống, không nhiều nhưng đủ nhìn rõ dưới dấu mới đặt. Vĩnh lập tức viết thêm giờ, nhờ Phong chuyển tin tiếp. Ông đề nghị gọi người giữ sổ cũ của cửa, một bà cụ ở xóm xa hơn. Bà Liên nói bà cụ đã yếu, nhưng cháu bà thường đi chợ và có thể chuyển lời.
Bảo nhìn thẻ ca trên tay người trực. Hắn hỏi mình có thể làm gì ngoài ghi giờ. Vĩnh đưa hắn chiếc đèn dự phòng, nhờ lau mặt kính và kiểm dầu theo chỉ dẫn. Hắn làm ở gian ngoài, đặt đèn cách xa giấy. Ô Kê bị giữ trong giỏ cạnh Thanh Nghi; nàng thỉnh thoảng thả một hạt thóc để nó không mổ dây.
“Con muốn mang nồi đến,” Bảo nói nhỏ khi họ chỉ còn hai người gần bàn.
“Con nghĩ nồi có thể làm gì?”
“Con không biết. Nhưng nó đã giúp cửa chín.”
“Ở đó mọi người đã đo phần và bàn trước khi dùng. Ở đây con chưa có nồi, cũng chưa biết chuyển phần thế nào.”
Hắn gật. Hắn không muốn nghe lời này, vì không có nồi đồng nghĩa không có thứ quen thuộc để thử. Nhưng hắn cũng nhớ đã từng đứng trước một phần mình có thể mất. Người ở cửa biển cần biết họ được gì, còn người ở Lạc Kê cần biết họ có thể mất gì.
“Con vẫn muốn hỏi bà Mạnh,” hắn nói.
“Ta sẽ viết cùng con.”
Họ viết tin về làng: nước ở cửa biển xuống dưới vạch thấp, đèn còn sáng, người trực đã báo điện và gọi người biết việc; Bảo muốn hỏi liệu làng có bản ghi nào về việc hai cửa chia phần cho nhau. Hắn không yêu cầu đưa nồi đi. Thanh Nghi đọc lại rồi gửi qua trạm.
Trời tối, Phong nói không nên đưa khách trở lại quán bằng thuyền khi sóng còn đổi chiều. Bà Liên sắp cho họ nghỉ ở gian đầu căn nhà mái đen. Bảo trả tiền bữa tối bằng khoản công khuân hàng, phần còn lại dành cho đường về. Vĩnh đã nhận ca đêm đầu, người trực sáng nằm nghỉ ở ghế dài, thẻ ca đặt trong tầm tay.
Bảo trải chiếu, định nằm nhưng lại ngồi dậy nhìn qua khe cửa. Trên hiên, đèn trong hộp kính cháy vàng. Vĩnh đứng cạnh bát, không chạm vào nó. Ông nhìn vạch, quay vào ghi một dòng, rồi đặt bút xuống.
Bảo cởi giày, nằm cạnh giỏ Ô Kê. Hắn không ngủ ngay. Khi tiếng sóng dồn vào chân đá, con gà rúc đầu dưới cánh; hắn đặt tay lên mép giỏ để nó khỏi đổ. Ngoài kia, chiếc đèn vẫn sáng.