Chương 247: Giá Một Chuyến Về
Sáng hôm sau, Bảo tìm được Sâm ở bến hàng. Người chở muối đang ngồi bên xe, cầm cái dùi xỏ lại một lỗ trên quai bao. Bánh xe trước bị chèn bằng hai hòn đá; con la kéo xe đứng dưới mái, vừa nhai cỏ vừa quẫy đuôi.
Bảo chờ ông buộc xong mới lên tiếng. “Chú Sâm, chuyến tới chú đi qua bến hôm trước chú nói phải không?”
“Phải. Nếu trời không đổ mưa lớn.” Sâm kéo thử quai bao. “Cậu muốn gửi gì?”
“Cháu muốn đi cùng.”
Sâm ngẩng lên. Bảo nói tên Lạc Kê. Ông nhíu mày một lúc, rồi chỉ về hướng con đường ngoài bến.
“Tôi chỉ tới bến hàng. Từ đó muốn về làng cậu thì phải tìm người chở tiếp hoặc tự đi. Lần trước tôi đã nói rồi.”
“Cháu nhớ. Cháu muốn hỏi thêm bãi đá. Bây giờ đi bộ qua được không ạ?”
“Lúc nước thấp có người qua. Nhưng tôi chưa đi ở đấy gần đây, không dám bảo hôm cậu tới nước sẽ thế nào. Tới bến hỏi người bên ấy.”
Bảo lôi một mảnh giấy ra. Trên giấy là những khoản cậu đã tính tối qua: tiền đi đến bến, phần dành cho chặng sau, tiền ăn và một đêm trọ. Cột tiền về vẫn để trống.
“Cháu có thể trả trước một nửa, đến bến trả nửa còn lại không?”
Sâm nhận lấy mảnh giấy, đọc chậm. Ông gõ ngón tay vào khoản tiền ăn.
“Cậu tính thế này thì mỗi ngày ăn được gì?”
“Cơm nắm mang theo. Nếu có nước nóng thì cháu xin thêm.”
“Đường xa, cơm nắm để mấy hôm sẽ hỏng.” Sâm trả giấy lại. “Tiền xe thì trả lúc lên được. Tôi không lấy trước, nhưng tới ngày mà xe đầy, cậu phải chờ chuyến sau.”
Bảo thở ra. Không phải đặt cọc khiến cậu nhẹ người, nhưng xe đầy cũng là chuyện có thể xảy ra. Cậu hỏi giờ khởi hành, tự ghi xuống mép giấy, rồi nhớ đến chuyện ở chuồng.
“Nếu cháu mang theo một con gà thì sao?”
Sâm nhìn cậu. “Gà sống?”
“Vâng. Nó hơi hay mổ dây, nhưng cháu buộc lồng chắc.”
“Xe chở muối, không có chỗ cho nó chạy. Có lồng thì để cạnh chân cậu, đừng để nó làm rách bao.”
“Có mất thêm tiền không ạ?”
“Không, nếu chỉ một con.” Ông đưa mắt nhìn mảnh giấy. “Nhưng tới bãi đá cậu tự xách. Nước lên thì cái lồng còn vướng hơn cái giỏ.”
Bảo cảm ơn, gấp giấy cất vào áo. Cậu đi được vài bước lại quay đầu:
“Chú có biết ai từ Lạc Kê mới ra không?”
“Chưa gặp. Hôm trước tôi bảo cậu là tôi đến gần bến, đâu có vào làng.” Sâm không cáu, chỉ chỉ cái bao đang khâu dở. “Nếu gặp ai, tôi sẽ hỏi hộ.”
Bảo cúi đầu. Cậu đã nghe câu trả lời này rồi, nhưng mỗi lần nghĩ đến nhà, cậu vẫn muốn hỏi lại, biết đâu qua một đêm có thêm tin mới.
Ở đầu chợ, cậu mua hai cái bánh nóng. Người bán gói bằng lá, dặn ăn sớm. Bảo cắn một miếng, vừa đi vừa tính: mang Ô Kê có thể tiết kiệm tiền nhờ người chăm, nhưng phải mua hoặc mượn lồng. Mà Ô Kê quen chạy ngoài sân, nhốt suốt đường liệu có chịu không?
Về đến chỗ làm, cậu gặp Thanh Nghi đang bê rổ rau. Nàng nhìn gói bánh trong tay cậu, chìa tay ra. Bảo đưa cái còn nguyên, nàng nhận, xé đôi rồi trả lại một nửa.
“Nghe nói cậu định đi tìm người chở muối từ sáng sớm.”
“Em gặp chú ấy rồi. Xe đi đến bến, không vào làng.” Bảo kể lại chuyện bãi đá và con gà. “Chú bảo có lồng thì cho mang.”
“Cậu đã hỏi người trông chuồng chưa?”
“Chưa. Em nghĩ đợi biết ngày đi rồi hỏi.”
“Cũng phải hỏi trước, để người ta còn tính. Nếu cậu mang nó đi, đường qua nước khó thì làm thế nào?”
Bảo nhìn nửa cái bánh. “Em chưa biết.”
“Vậy đừng quyết ngay. Lát nữa qua chuồng, tôi đi cùng.”
Trong bếp, hai người cùng nhặt rau. Bảo định giữ lại những lá già để luộc, Thanh Nghi giành lấy rổ, bảo lá nào sâu quá thì bỏ. Cậu lựa ra một lá chỉ bị thủng một lỗ nhỏ, giơ lên trước mặt nàng.
“Lá này ăn được.”
“Ừ, lá đó được.”
Đến cuối rổ, đống lá được giữ lại lớn hơn đống bỏ đi. Thanh Nghi bảo lần sau cậu nhặt một mình. Bảo tưởng nàng chê mình chậm, tới khi nhìn thấy nàng đem đống lá sâu ra cho gà mới hiểu nàng chỉ muốn có người phụ.
Giữa buổi, Mộc đến tìm Bảo. Trên tay lão là bản chép Phúc làm hôm qua, gấp gọn và kẹp giữa hai tờ giấy dày.
“Ta gặp ông Từ rồi,” lão nói. “Ông ấy không nhận ra nét chữ trên mảnh giấy. Nhưng trong hội có một cuốn sổ đối chiếu cũ, ghi ai nộp tin về từng điểm. Ông ấy bảo sẽ tìm người giữ sổ hỏi giúp.”
Bảo ngừng tay. “Hôm nay có xem được không?”
“Chưa. Sổ không ở chỗ ông ấy.” Mộc rút bản chép ra, mở trước mặt cậu. “Ông chỉ cho ta một điều: dấu tròn ở cuối nét cong giống ký hiệu điểm lấy tin trên một số sổ của hội. Giống thôi, không chứng minh nó chính là điểm ấy.”
“Điểm lấy tin là gì?”
“Nơi người đi đường gửi lại điều mắt thấy tai nghe. Có khi là quán, có khi chỉ là nhà một người quen. Họ ghi để chuyến sau biết tìm ai, không có nghĩa nơi ấy là cửa.”
Bảo nhìn dấu tròn. Nếu đó là chỗ lấy tin, chữ “bếp” có thể chỉ một căn nhà. Nhưng vì sao người ta lại ghi thêm “Lạc Kê — điểm chín — tắt”? Cậu muốn hỏi liên tiếp mấy câu, cuối cùng chọn câu gần mình nhất:
“Có thể tìm người đã gửi tin không?”
“Nếu sổ còn ghi tên, và nếu người đó còn ở nơi cũ.” Mộc gấp bản chép lại. “Ông Từ hẹn khi có tin sẽ nhắn. Ta cũng sẽ hỏi Phúc xem mảnh giấy có thêm chữ nào không.”
Bảo cầm rổ rau, thấy hai tay mình ướt. Cậu đặt rổ xuống trước khi chạm vào bản chép. “Nếu có người biết đường về làng, lão hỏi giúp con cả chuyện bãi đá nhé.”
“Được. Nhưng chuyện ngươi định đi, đã nói với người phụ trách chưa?”
“Con đang tính ngày.”
Mộc nhìn mảnh giấy lộ ra trong túi áo cậu. “Tính được bao nhiêu rồi?”
“Đủ đến bến. Qua bến thì chưa chắc. Tiền về cũng chưa đủ.”
Lão không lập tức đưa tiền hay khuyên cậu ở lại. Lão lấy bút, viết tên một người ở bến lên góc giấy: người này từng giúp hội nhận hàng, có thể biết ai đi qua bãi đá. Mộc dặn Bảo khi gặp phải tự hỏi giá và đường, đừng coi một cái tên là lời bảo đảm.
Bảo nhận giấy. Cậu đọc cái tên hai lần cho nhớ, rồi nhét vào túi trong, tách khỏi tiền.
Chiều, cậu và Thanh Nghi sang chuồng. Người trông chuồng nghe Bảo nói xong thì dựa chổi vào vách.
“Nếu cậu đi ít ngày, tôi thêm thức ăn vào máng được. Đi lâu hơn thì phải nhờ ai góp công dọn chuồng. Gà của cậu bới tung rơm, không thể để mặc.”
“Cháu sẽ nhờ Hổ, nếu anh ấy rảnh.”
“Cứ hỏi cậu ấy. Còn tiền thóc, cậu để lại trước một ít. Thừa tôi trả, thiếu tôi ghi.”
Ô Kê đang đứng trên thanh gỗ. Bảo gọi, nó nhảy xuống, tiến đến mổ vào vạt áo cậu. Thanh Nghi nắm lấy đầu vạt áo, đưa ra xa.
“Nó đi theo cậu từ làng tới đây, hẳn cậu muốn đưa nó về,” nàng nói.
“Vâng. Nhưng em sợ nhốt nó trong lồng cả ngày.”
“Thì kiếm lồng trước, cho nó thử. Nếu không chịu, ta lại tính.”
Người trông chuồng chỉ chiếc lồng cũ ở góc sân. Một thanh tre đã gãy, nhưng cửa và đáy còn tốt. Bảo xin mượn để sửa; ông đồng ý, dặn đừng làm mất then cài.
Hổ đến lúc trời xế. Nghe Bảo hỏi, anh xách chiếc lồng lên, lắc thử. Ô Kê từ trong chuồng nhìn ra, nghiêng đầu như đang cân nhắc đối thủ.
“Tôi có thể giúp dọn,” Hổ nói, “nhưng phải biết cậu đi bao lâu. Có hôm tôi đổi ca, không đến được.”
“Em sẽ nói trước khi đi. Nếu hôm nào anh bận, em tìm người khác.”
“Được. Đừng để đến sáng lên xe mới chạy đi tìm tôi.”
Bảo hứa. Hổ đưa chiếc lồng lại, lấy con dao nhỏ giúp cậu vót một thanh tre thay thanh gãy. Hai người làm ngay dưới mái hiên. Thanh Nghi ngồi bên cạnh tước lạt; nàng tước quá mảnh, Hổ bảo buộc dễ đứt, nàng liền đưa dao cho Bảo làm tiếp.
Khi chiếc lồng đã sửa xong, Bảo đặt ít thóc vào trong. Ô Kê bước tới ăn, vừa thấy cửa động liền giật mình nhảy lùi. Bảo không đóng nữa. Cậu mở rộng cửa, đẩy cái lồng sát tường để nó quen dần.
“Cứ để đấy,” người trông chuồng nói. “Mai xem nó có chịu vào không.”
Tối về, Bảo lấy mảnh giấy tính tiền ra, thêm hai dòng mới: thóc gửi lại và lồng mượn. Cậu chưa biết sẽ chọn dòng nào. Ở góc dưới là cái tên Mộc viết cho cậu; phía trên vẫn còn khoảng trống dành cho tiền về.
Cậu gấp giấy làm tư, đặt dưới chiếc chén úp cạnh tờ xin nghỉ. Ngoài cửa sổ, tiếng ai đó đang gọi nhau dọn hàng. Bảo sờ túi tiền, nghe mấy đồng xu chạm nhau, rồi đặt túi xuống bên cạnh hai tờ giấy.