Chương 204: Hai Bản Chép
Tờ giấy của Nhất Dực Hội đến vào giữa ca sáng.
Người đưa thư đứng dưới mái cửa ngoại viện, tháo chiếc túi vải khỏi vai. Tạ Tiểu Bảo nhận giấy, xem tên người gửi rồi ghi giờ nhận. Trên mặt ngoài chỉ đề Hứa Đồng; hắn không bóc, nhờ người trực cùng mang vào phòng.
Một lúc sau, Hứa Đồng gọi hắn và Thanh Nghi tới. Ông Từ đã ngồi trong đó, trước mặt là tờ giấy vừa nhận.
“Lương muốn mượn bản chép trang sổ ở trạm,” ông nói. “Hội đang đối danh sách các điểm nghỉ cũ. Hắn hỏi có thể chép cả hình bếp và bảng số không.”
Bảo nghĩ tới người giữ đường ngồi dưới mái, cẩn thận gói cuốn sổ vào vải dầu. Hôm qua ông cho phép mang bản chép câu về bếp để hỏi người giữ sổ cũ của hội; ông chưa nói về bảng số.
“Phải hỏi ông ấy trước,” Bảo đáp.
“Ta cũng nghĩ thế,” Hứa Đồng nói. “Nhưng Lương nói xe chở hàng rời trạm vào ngày mai, muốn nhận giấy trước khi xe đi.”
Ông Từ cầm lá thư lên. “Hắn đã nghe ta kể trang ấy có hình và số. Ta không đưa bản chép cho hắn. Trong thư hắn ghi muốn đối tuyến đường, không nói sẽ chuyển giấy cho ai khác.”
Thanh Nghi hỏi: “Nếu người giữ đường đồng ý cho xem mà không đồng ý cho chép lại thì sao?”
“Ta sẽ chuyển đúng điều ấy.”
Bảo nhìn ra cửa. Buổi chiều hắn có thể xuống chân núi, nhưng ngày mai phải trực sớm. Thanh Nghi cũng có việc ở phòng ghi chép. Ông Từ nói mình có chuyến đi ngang trạm, sẽ mang câu hỏi; không cần hai người đổi ca vì thư của hội.
Hứa Đồng lấy giấy, viết ba điều để người giữ đường chọn: cho xem bản chép câu về bếp; cho xem hình và bảng số; hoặc chờ gặp mặt rồi bàn. Bảo đề nghị thêm một dòng: nếu hội muốn giữ hay chép tiếp thì phải hỏi lại. Ông Từ gật đầu, nhận tờ giấy và hẹn lúc về sẽ báo.
Trước khi ông đi, Bảo đưa bản chép câu về bếp. Ở cuối trang đã có tên người giữ sổ và nơi cất bản gốc như lời ông yêu cầu. Hình vẽ và các con số vẫn để cùng Hứa Đồng.
Ngoài cửa, một người đến nhận hàng không tìm thấy phiếu. Bảo hỏi tên, giờ hẹn và món hàng rồi gọi người phụ trách kiểm sổ. Người ấy bực bội, bảo lần trước chỉ cần nói một tiếng đã được vào. Bảo đưa ghế dưới mái cho ông ngồi, còn mình đứng chờ cùng người trực. Khi người phụ trách tìm được tên và xác nhận, họ mới giao hàng. Trước khi đi, khách tìm thấy phiếu trong lớp áo mưa, đặt lên bàn cho Bảo xem; hắn ghi lại số phiếu vào sổ.
Qua giờ trưa, Bảo ăn cơm với rau xào và một bát canh. Hổ mang thêm một mẩu cá khô tới, nói vừa nhận ở bếp sau buổi khuân bao. Hắn bẻ đôi cá, Bảo từ chối vì đã đủ phần. Hổ ăn cả hai miếng, rồi hỏi chiếc nồi có được nói tới trong thư không.
“Thư hỏi trang sổ ở trạm, không hỏi nồi của ta.”
“Nhưng họ biết ngươi có nồi.”
“Biết. Lần này ta sẽ hỏi họ cần xem đến đâu.”
Hổ dùng đũa gạt hạt cơm cuối cùng vào miệng. “Nếu họ chỉ xem hình mà đoán ra thì sao?”
Bảo không trả lời ngay. Hình bếp trong sổ không có kích thước, nhưng người có nhiều bản vẽ khác có thể nhìn thấy điều hắn chưa thấy. Hắn nhớ lời Hứa Đồng: quyết định đưa bản chép thuộc người giữ đường, còn hắn phải nói rõ điều mình đã biết khi đưa ý kiến.
Cuối buổi, ông Từ trở về với tờ giấy gấp đôi. Người giữ đường đã đánh dấu vào dòng đồng ý cho hội xem câu về bếp. Với hình và bảng số, ông muốn Lương gặp trực tiếp; những trang ấy còn liên quan tiền công, tiền nợ của trạm, ông không muốn giấy đi theo xe hàng mà không biết về đâu.
Hứa Đồng đọc xong, đưa Bảo xem. Bên dưới có thêm một câu do người giữ đường nhờ ông Từ viết: “Nếu cần đối số, mang sổ của hội tới; không chép tên người trong sổ trạm ra ngoài.”
Bảo hỏi người giữ đường đã xem trang có tên và khoản nợ chưa. Ông Từ nói đã cùng ông ấy lật lại. Có hai khoản có dấu trả, một khoản ghi thiếu ngày; người giữ đường muốn hỏi con cháu người thợ trước khi nói nợ còn hay hết. Đó là việc của trạm, hội không thể quyết thay.
Lương tới ngoại viện vào sáng hôm sau, không chờ xe hàng. Hắn mang túi tài liệu và một cuốn sổ mỏng, đặt lên bàn khi Hứa Đồng mời ngồi. Hắn đã nghe câu trả lời của người giữ đường qua ông Từ.
“Ta chỉ muốn đối tên điểm,” Lương nói. “Nếu cuốn sổ ấy ghi đúng bếp trên sân, nó giúp ta biết một đoạn đường cũ đi về đâu.”
Thanh Nghi hỏi: “Ông cần bảng tiền công để làm gì?”
“Ta không cần tên người nhận tiền. Ta muốn xem ngày ghi và số thứ tự của trang. Sổ tuyến của hội có một lần sửa đường, nhưng không ghi rõ sửa trước hay sau khi bếp ngừng dùng.”
“Ông có thể hỏi người giữ đường,” Bảo nói. “Ông ấy đã hẹn gặp.”
Lương gõ nhẹ lên bìa sổ của mình. “Ta sắp đi theo xe. Chờ tới lần sau thì chậm cả tháng.”
“Vậy sáng nay đi được không?” ông Từ hỏi.
Lương nhìn ông, rồi nhìn túi tài liệu. Hắn nói xe khởi hành sau buổi trưa; đi tới trạm và về kịp là có thể, nếu không lên sân đá. Ông Từ nhận dẫn đường. Bảo xin theo bằng tiền và thời gian của mình, nhưng Hứa Đồng nhắc hắn còn ca chiều. Hắn nhìn sổ phân ca; nếu đi bây giờ mà xe về muộn, người đổi ca sẽ phải chờ.
“Con ở lại,” hắn nói. “Con có thể ghi câu hỏi để ông Từ mang đi không?”
Hứa Đồng đưa giấy. Bảo viết: “Trang sổ có ngày không? Người giữ đường muốn hội dùng ngày ấy vào việc gì? Có thể giữ một bản đối chiếu tại trạm không?” Thanh Nghi thêm câu hỏi về dấu trước hai hàng số. Nàng không đề nghị Lương kết luận thay; nàng muốn biết trong sổ hội có dùng dấu tương tự không.
Ông Từ mang tờ hỏi đi cùng Lương. Hai người trả lời nhanh hay chậm là việc của họ; Bảo trở lại cửa, nhận một xe rau và giúp người đưa hàng tìm người phụ trách. Đến khi tiếng bánh xe xa dần, hắn mới nhận ra mình vẫn cầm chiếc bút chưa đậy nắp.
Đầu giờ chiều, trời chuyển gió. Một tấm vải che hàng bị bung dây, Bảo cùng người đánh xe buộc lại. Tay hắn dính bùn, phải rửa sạch trước khi chạm vào sổ. Lúc xong ca, hắn vào bếp lấy phần cháo nóng để dành cho người trực muộn. Hôm qua hắn mua bánh bằng tiền riêng; hôm nay không mua gì thêm.
Ông Từ trở về khi trời gần tối. Lương đã lên xe đúng giờ, còn ông mang theo một bản giấy mới. Người giữ đường cho Lương xem trang sổ tại chỗ, che những dòng ghi tên người nhận tiền. Lương chỉ chép ngày còn đọc được, hình vẽ và hai dấu trước hàng số. Ông để lại một bản chép có tên mình ký ở trạm.
“Ngày trong sổ trạm cũ hơn lần sửa đường của hội,” ông Từ nói. “Lương bảo điều đó giúp hắn xác định bếp còn được ghi nhận trước khi đường đổi hướng. Hắn chưa biết bếp ngừng dùng lúc nào.”
“Dấu số thì sao?” Thanh Nghi hỏi.
“Trong sổ của hội có dấu gần giống, dùng chỉ hàng chuyển sang lượt sau. Nhưng hắn chỉ mang bản chép một trang; muốn chắc phải xem thêm những trang khác.”
Bảo lấy tờ phép tính hôm qua. Nếu hai hàng ấy được chuyển sang lượt sau, hắn không thể đơn giản trừ chúng như phần trả về. Tổng số có thể vẫn khớp bằng một cách khác; cũng có thể có một dòng đã mất mà hắn chưa tính.
“Lương có biết nồi của ta không?” hắn hỏi.
“Ta không đưa số đo hay nói về nồi. Trong câu chép từ sổ trạm có chữ ‘nồi’, hắn thấy rồi.”
Bảo gật đầu. Ông Từ đặt bản chép mới cạnh bản cũ. Trên giấy mới có hình bếp với góc bị thiếu được để trống, ngày ghi còn đọc được và chữ ký của Lương. Không có tên người thợ hay khoản nợ của trạm.
Hứa Đồng hỏi người giữ đường có giữ một bản giống hệt không. Ông Từ xác nhận ông đã đọc và nhận trước khi Lương đi. Hứa Đồng lưu bản của ngoại viện, còn Bảo xin chép lại phần dấu số. Lần này hắn viết hai cách hiểu ở hai dòng, không chọn cách nào.
Tối, Hổ đến rủ hắn xem Ô Kê. Người coi khu nuôi đã kiểm bản lề sau một ngày sử dụng; chốt và cửa vẫn đóng được. Hổ kể chuyện một con gà khác làm đổ máng, bị người coi bắt hắn dọn vì lúc ấy hắn đứng gần nhất. Hắn cằn nhằn suốt đoạn đường, nhưng khi tới sân vẫn cầm chổi giúp quét nốt hạt thóc dưới chân cửa.
Bảo về phòng sau Hổ. Hắn mở chiếc khăn đựng tiền, đếm lại phần còn sau chiếc bánh hôm qua, rồi buộc nút như cũ. Trên bàn, hai bản chép nằm cạnh nhau: một bản có câu về bếp, một bản có hình và ngày. Hắn đặt tờ phép tính chưa giải xong ở giữa.