Chương 303: Lối Mỏ Sau Mưa
Tạ Tiểu Bảo tìm thấy hai cây mọc sát nhau sau khi đi qua khúc ngoặt thứ ba.
Một cây lớn hơn, thân nghiêng ra đường; cây nhỏ bị kẹp giữa thân cây lớn và một tảng đá. Người bán kim chỉ đã vẽ chúng trên đất hôm trước. Bảo đối với nét trong sổ, rồi ngẩng lên nhìn lối mòn rẽ vào sườn tây.
“Cháu nhớ chỗ này có cây,” hắn nói, “nhưng không nhớ có hai cây.”
Lâm Hổ thử bước vào. Lối mòn đủ rộng cho một người, đất dưới lá còn ẩm. Anh dùng cây gậy tre mượn ở trạm gạt lớp lá, thấy dấu giày cũ và một vết kéo dài trên bùn. Không biết vết ấy do sọt hàng hay cành cây để lại; anh chỉ cho mọi người xem, không kết luận.
Cả nhóm đi nhẹ như đã bàn: Xám và chiếc nồi ở lại trạm, Ô Kê trong lồng do Bảo mang, Thanh Nghi giữ giấy, Dư An mang thuốc. Trước lúc đi, họ đã báo bà chủ trạm hướng định tới và dự tính quay về trước tối. Bà dặn nếu gặp người gánh hàng thì hỏi tin mới, đừng chỉ dựa vào đường vẽ từ ba ngày trước.
Đi một đoạn, lối mòn vòng qua một mỏm đá. Bảo thấy vệt khắc mờ trên mặt đá, giống hai đường song song. Hắn cúi gần, nhớ đêm đoàn Tống Ký đi qua lối mỏ, có người phía trước dùng đèn soi vách. Nhưng hắn không nhớ khi ấy đã thấy dấu này. Hắn vẽ hai nét vào sổ, ghi vị trí sau mỏm đá đầu tiên.
“Có thể dấu của thợ mỏ,” Hổ nói.
“Cũng có thể người đi sau khắc.” Thanh Nghi đưa hắn bình nước. “Ta không biết.”
Bảo nhận bình, uống một ngụm. Hắn đã định ghi “dấu thợ mỏ”, cuối cùng chỉ viết “hai nét trên đá”.
Đường bắt đầu dốc lên. Hổ đo bước bằng cây gậy, chọn một đoạn tương đối đều rồi buộc mảnh dây nhỏ đánh dấu đầu và cuối. Anh đặt gậy ngang, một đầu tựa vào sườn, đầu kia giữ bằng tay. Dư An tìm một cành thẳng nhỏ làm thước đứng. Họ dùng dây có vật nặng để ước lượng độ chênh, nhưng gió khiến dây lắc liên tục.
“Đo được không?” Bảo hỏi.
“Đo gần đúng.” Hổ chờ dây đứng yên hơn. “Mỗi đoạn phải đặt gậy ngang lại; đất không dốc đều.”
Hai người thay nhau giữ gậy. Thanh Nghi ghi chiều dài và độ cao ước tính của đoạn đã chọn, kèm vị trí hai dấu dây. Bảo tính thử, nhầm chiều cao của hai lần đặt, được kết quả lớn gấp đôi. Hổ không sửa hộ ngay, chỉ hỏi vì sao cây dốc lại cao bằng một người đứng cạnh. Hắn nhìn lại rồi gạch con số, viết phép tính ra từng bước.
Lối không quá dốc ở đoạn họ đo, nhưng mặt đất trơn và một bên là đá lở. Chỉ có con số về độ dốc không đủ cho Xám đi qua. Thanh Nghi ghi thêm chiều rộng hẹp nhất họ nhìn thấy ở đoạn ấy, bằng cách đặt gậy ngang từ sườn đá đến mép đất còn chắc. Bên ngoài mép có lá và đất vụn, họ không tính vào phần đứng được.
Qua đoạn dốc là một rãnh nước cắt ngang lối. Nước từ trên sườn chảy xuống, qua giữa hai hòn đá rồi mất dưới đám dương xỉ. Hôm qua trời đã ngớt mưa, hôm nay dòng vẫn còn. Bảo dùng một cái bát nhỏ hứng nước tại chỗ dòng gom lại, đếm nhịp thở trong khi nước đầy đến vạch hắn tự vạch bằng than.
Hổ hỏi hắn định tính gì.
“Xem nước chảy nhiều hay ít. Lát nữa lúc quay lại đong lần nữa.”
Dư An bảo cách ấy có thể so hai lần tại đúng một chỗ, nhưng số đếm của Bảo chưa phải đồng hồ, còn miệng bát đặt lệch sẽ hứng lượng khác. Bảo đặt bát lên hòn đá phẳng, đánh dấu chỗ đặt bằng một cành nhỏ. Hắn ghi số đếm lần đầu, không gọi đó là lượng nước cả khe.
Hắn vừa đổ nước khỏi bát, Ô Kê đã thò cổ đòi uống. Bảo rót ít nước sạch từ bình của mình, đặt bát trong lồng. Con gà uống một ngụm, nghiêng đầu nhìn rãnh nước, rồi lại uống. Hắn bảo nó phải đợi lúc trở về mới được chọn bát tiếp.
Sau rãnh nước, họ tới chỗ đá chắn. Một tảng lớn nằm chéo trên lối, phía trong sát vách có khoảng trống đủ cho người nghiêng vai đi qua. Bên ngoài là sườn dốc phủ cây bụi. Dưới tảng đá lớn còn vài hòn nhỏ chèn vào nhau; một hòn đã bị người đi trước đẩy sang một bên, để lộ đất ẩm.
Bảo bước tới, định lách ngay. Hổ giữ tay hắn lại. Anh ngồi xuống nhìn chân tảng đá, không chạm vào trước. Có một khe nhỏ bên dưới, nhưng anh không biết tảng đá tựa vững vào vách hay đang tì lên những hòn nhỏ. Nếu đẩy một hòn mà cả tảng dịch, người đứng trong khe sẽ không còn chỗ tránh.
“Chúng ta đi phía trong được không?” Thanh Nghi hỏi.
Hổ đo khoảng trống bằng một đoạn dây ngắn rồi so với chiều ngang vai mình. Anh có thể qua nếu không mang túi, nhưng phía bên kia có một bậc đất dốc xuống; không thấy hết đường sau khúc ngoặt. Xám có thể hẹp hơn vai người ở một chỗ, rộng hơn khi mang tải, lại cần chỗ đặt bốn chân. Anh không thể kết luận chỉ bằng chiều ngang.
Bảo đặt lồng gà xuống nền phẳng. “Nếu tháo tải, Xám có qua được không?”
“Ta chưa biết nền dưới chân nó có chịu được không. Và nó không tự xoay như người.” Hổ nhìn quanh. “Trước hết ta xem đường bên kia. Không đụng vào đá.”
Anh gửi túi lương lại, lách qua khe trong. Dư An đứng phía này nhìn, dặn anh nếu đá động thì lùi ngay. Hổ đặt tay lên vách riêng, tránh tì vào tảng lớn. Đến phía bên kia, anh báo đã đứng vững, rồi đi thêm vài bước để nhìn khúc ngoặt.
Một lúc sau anh quay lại. Lối phía bên kia nối với một khoảng đất rộng hơn, nhưng giữa hai chỗ có một thân cây đổ thấp, người đi phải cúi. Anh chưa đi xa tới hai lối nhập mà người bán hàng kể. Thanh Nghi hỏi mặt đường sau thân cây có bị khoét không; Hổ nói chưa thấy rõ vì bụi che.
Bảo muốn sang xem. Dư An hỏi đầu gối hắn có căng không; hắn thử gập chân, nói chưa. Ông đồng ý cho hắn qua nếu đi chậm và không mang lồng. Hổ sang trước, chỉ chỗ đặt chân. Bảo nghiêng người, lưng áo cọ vào vách. Tới giữa khe, hắn nhận ra cuốn sổ trong áo đang mắc; hắn không giật mạnh, lùi nửa bước, xoay người rồi mới đi tiếp.
Phía bên kia có mùi đất mới. Hắn nhìn thân cây đổ và khoảng đường Hổ nói. Một nhánh cây chống xuống sườn, có thể là thứ giữ thân cây khỏi lăn, cũng có thể chỉ là cành đã gãy. Hắn không chạm vào. Hắn vẽ vị trí cây và tảng đá, ghi rõ đây là hình nhìn từ phía trong khe, không phải toàn bộ con đường.
“Đoàn Tống Ký đã qua đây?” Hổ hỏi.
“Cháu nhớ lối mỏ hẹp và có chỗ phải khiêng cáng. Nhưng cháu không nhớ tảng đá này.” Bảo nhìn lên vách. “Có thể đá xuống sau đó.”
Hắn không thể dùng ký ức để bảo tảng đá đứng ở đây từ khi nào. Hổ đề nghị họ quay lại, bàn với Thanh Nghi và Dư An trước khi đi sâu hơn. Hắn nghe theo, đi ngược qua khe, lần này giữ sổ sát người.
Cả nhóm ngồi dưới một gốc cây cách tảng đá. Thanh Nghi hỏi họ có thể dọn vài cành để nhìn đường bên kia mà không động vào thân cây đổ không. Hổ nói có thể tìm một góc quan sát khác, nhưng anh không muốn chặt hay kéo cây khi chưa biết nó đang giữ gì trên sườn. Dư An đề nghị hỏi người bán kim chỉ xem ông và hai người gánh hàng đã đi dưới hay vòng quanh thân cây.
Bảo mở trang vẽ của người bán hàng. Ở chỗ ông vạch hai lối nhập, hắn chưa ghi thân cây; có thể ông bỏ qua vì người đi bộ vẫn cúi được, cũng có thể cây mới đổ sau đó. Hắn viết câu hỏi cạnh hình, để nếu gặp lại ông sẽ hỏi rõ.
Đường về, hắn đặt bát lại đúng chỗ ở rãnh nước, dùng cùng số đếm. Lần này nước đầy vạch chậm hơn một ít. Dư An nhắc một lần đếm không đủ nói mưa đã hết hay nước sẽ tiếp tục rút; họ chỉ biết tại chỗ ấy, trong hai lúc họ đo, lượng hứng vào bát khác nhau. Bảo ghi cả hai số và khoảng thời gian tương đối giữa chúng.
Hắn nhìn Ô Kê. “Ngươi có muốn kiểm lại không?”
Con gà mổ vào vạch than. Dư An đưa khăn lau bát trước khi Bảo cho nó uống nước sạch. “Lần sau vạch ở ngoài bát,” ông nói.
Về đến trạm, họ kể cho bà chủ nghe về tảng đá và thân cây. Bà nói người bán kim chỉ đã lên đường sáng nay, không chắc mấy ngày nữa quay lại. Bà biết một người trong xóm từng cùng gánh hàng trên lối mỏ; bà có thể nhờ cháu sang hỏi ông có nhà không. Bảo muốn chạy đi ngay, nhưng bà chỉ rặng tre và nói nhà ông ở xa hơn hắn tưởng, trời đã muộn.
Hắn đành viết những điều cần hỏi: đi vòng hay cúi dưới cây, mang sọt qua tảng đá bằng cách nào, và có thấy la nào đi tuyến ấy không. Bà chủ hứa nhờ cháu mang mảnh giấy khi sang xóm, không hứa người kia sẽ trả lời trong tối.
Hổ kiểm lại chân Xám, cho nó đi vài vòng sân. Con la không biết cả nhóm vừa mất một buổi để xem đường của nó; thấy Bảo, nó đòi cỏ. Hắn lấy đúng phần đã mua, đưa từng nắm.
“Chúng ta tìm được lối cho người,” hắn nói với nó. “Còn ngươi phải đợi.”
Xám nhai, đuôi quét vào chân hắn. Bảo tránh sang bên, nhìn về phía sườn tây. Trong sổ đã có một đoạn dốc, một rãnh nước và tảng đá chắn, nhưng phần đường sau thân cây vẫn trống. Hắn mang sổ vào phòng, để bút bên cạnh câu hỏi chưa có người trả lời.