Chương 345: Dấu Đen Trên Đá
Buổi trưa, chiếc bánh trong tay bà Mạnh rơi xuống bàn.
Nó không rơi xa. Một mép chạm mặt gỗ trước, rồi cả chiếc nằm nghiêng bên cạnh những chiếc bánh đã nặn. Tạ Tiểu Bảo nghe tiếng rất nhẹ, ngẩng lên từ rổ đậu đang nhặt.
“Bà!”
Hắn đứng bật dậy. Bà Mạnh vẫn nhìn xuống bàn, hai bàn tay dính bột chưa rời nhau bao nhiêu. Trên ngón tay bà còn một vệt trắng kéo từ nếp cuối của chiếc bánh. Bảo chờ bà ngẩng đầu, chờ bà nhìn thấy hắn.
Không có tiếng gọi. Ánh sáng vẫn nằm trên mép cửa, còn hai bàn tay bà chỉ nhích đi một chút rất khó thấy.
Dư An tới cạnh hắn. Ông xem chiếc bánh, hỏi Bảo có chạm vào bàn không. Hắn lắc đầu; rổ đậu ở trên ghế, cách bàn một quãng. Thanh Nghi đang ở ngoài hiên cũng vừa nghe thấy tiếng động nhỏ, nhưng nàng không nhìn vào nhà lúc nó xảy ra.
“Con đã tưởng bà sắp nói chuyện,” Bảo nói.
Dư An không bảo hắn đừng tưởng. Ông đặt chiếc ghế cho hắn, rồi ngồi đối diện. “Bà đã đặt được chiếc bánh xuống. Ta chưa biết bà sẽ làm gì tiếp.”
Bảo nhìn chiếc bánh. Từ khi hắn về làng tới nay, bà đã nặn từng nếp, chậm tới mức nhiều khi hắn phải đem hình vẽ ra so. Hôm nay nó nằm trên bàn, rõ ràng và gần đến mức hắn muốn cầm lên xem phần đáy có dính bột không.
“Con có được chạm vào không?”
“Đó là bánh bà làm. Nếu chưa cần dời, ta cứ để ở đây.”
Bảo thu tay lại. Hắn không tức giận vì câu trả lời. Chỉ là trong giấc mơ, bà đã đưa bánh cho hắn; còn bây giờ hắn ngồi trước chiếc bánh thật mà không biết bà nặn nó cho ai.
Hổ đem rổ đậu ra hiên, đặt nơi không làm vướng lối. “Ta trông nước trong nồi. Ngươi ngồi với bà đi.”
Bảo kéo ghế sát hơn một chút. Hắn kể bà nghe chiếc bánh đã đặt xuống, kể nó nằm nghiêng cạnh những chiếc khác. Hắn còn nói mình đã nghe tiếng, dù không nhìn thấy lúc bà buông tay. Câu chuyện rất ngắn, nhưng hắn kể hai lần.
Đầu giờ chiều, ông Thuận tới cùng ông Cẩn. Người thợ đá mang một chiếc gương nhỏ buộc vào đầu thanh gỗ, một túi dụng cụ và mảnh giấy vẽ rãnh giếng. Hôm qua ông Thuận đã nói chưa biết ngày nào ông Cẩn có thể đi; sáng nay giao xong việc, người thợ ghé nhà ông rồi hai người cùng vào làng.
Bảo muốn chạy ra giếng ngay. Hắn nhìn bà Mạnh, lại nhìn chiếc bánh trên bàn. Thanh Nghi đưa hai người khách vào, kể vừa có một chuyển động mới. Ông Cẩn đứng ở cửa nghe, sau đó nói:
“Cháu ở với bà một lát cũng được. Ta xem lại hình, không cần đi ngay.”
Bảo ngồi thêm. Ông Cẩn trải bản vẽ lên chiếc ghế ở hiên; Hổ chỉ vị trí mép gàu đã che vết sứt theo ghi chép của Thanh Nghi. Dư An nhìn hai bàn tay bà Mạnh, rồi bảo Bảo có thể đi cùng người thợ. Ông và Hổ sẽ ở lại; nếu bà có thay đổi rõ, họ sẽ báo khi nhóm trở về.
“Con sẽ kể chuyện chiếc bánh cho ông Cẩn trên đường,” Bảo nói.
Hắn lấy hình chân giếng và bản chép dấu ở bệ tượng. Thanh Nghi mang theo bình nước, một mảnh vải sạch và chiếc gương của mình. Trước khi đi, Bảo tới lồng Ô Kê. Con gà đi sát nan, nhìn ra phía đường. Hắn thay nước, đưa mấy hạt thóc, rồi hứa khi có đủ người trông sẽ đưa nó ra giếng lần nữa.
Tới sân giữa làng, ông Cẩn xem người giữ dây gàu trước. Bác ấy vẫn đứng cạnh thành, bàn tay nắm dây. Thanh Nghi nói vạt áo người phụ nữ ôm rau đã được gỡ khỏi cọc hôm trước. Ông Thuận nhìn vị trí từng người, đặt giỏ và bình nước ở mép sân để không vướng đường.
Ông Cẩn ngồi bên đầu rãnh ngoài, nơi lần trước ông đã gạt lá. Ông dùng gương của Thanh Nghi hứng ánh sáng, còn chiếc gương nhỏ đặt trên thanh gỗ được đưa tới miệng rãnh. Bảo giữ gương ngoài theo lời chỉ của ông.
Vệt sáng lách qua khoảng hẹp. Mặt đá dựng trong rãnh hiện lên; vệt sẫm hôm trước nay thấy rõ thêm phần dưới. Ông Cẩn xoay gương nhỏ một chút. Bên cạnh vệt sẫm có một đường lõm chạy xuống, tới gần mép đá thì rẽ ngang.
“Đó là nét đục,” ông nói. “Ta thấy cạnh của nó, không phải chỉ là một vệt bẩn.”
Bảo cố giữ gương yên. “Có giống dấu ở chân giếng không ạ?”
“Ta chưa thể nói. Đường này nằm trên mặt đá phía trong, còn ở nền ngoài là hai đoạn khác.” Ông Cẩn đổi góc nhìn. “Cho ta thêm chút sáng ở bên phải.”
Bảo xoay gương. Ánh sáng lướt qua đường lõm, làm mép đá sáng lên. Ở chỗ đường rẽ ngang, một ít vật đen bám thành mảng nhỏ. Người thợ nhìn rất lâu, rồi đưa chiếc gương trên thanh gỗ ra ngoài.
“Ta muốn lấy một ít ở phần đã bong, không cạo vào đá. Các vị có đồng ý không?”
Thanh Nghi hỏi ông làm thế nào. Ông chỉ một mảnh vải sáng màu, một đầu que mảnh quấn mềm. Phần cần chạm nằm gần miệng rãnh, cách xa chỗ chân người giữ dây. Ông sẽ không nạy phiến đá hay đưa que vào sâu quá chỗ nhìn thấy.
Bảo đồng ý. Hắn ngồi cạnh, giữ chiếc gương ngoài. Ông Cẩn đưa đầu que vào, chạm nhẹ lên chỗ mảng đen đã bong một góc. Khi rút ra, trên lớp vải quấn đầu que có vài hạt sẫm.
Ông đặt chúng lên mảnh vải sáng, dùng đầu ngón tay vê một hạt. Nó để lại vệt xám đen, không dính như nhựa cây mà ông Thuận từng kể. Người thợ đưa mảnh vải cho Bảo xem.
“Trông giống muội bếp,” Bảo nói.
“Có thể là muội hoặc bụi than,” ông Cẩn đáp. “Ta từng thấy thứ tương tự ở bệ bếp. Nhưng chỉ mấy hạt này chưa cho ta biết ở đây từng đốt gì, đốt lúc nào.”
Ông Thuận ngồi xuống cạnh họ, ngửi mảnh vải, rồi lắc đầu. “Ta không ngửi được mùi rõ.”
Thanh Nghi gấp mảnh vải lại, ghi bên ngoài vị trí và ngày lấy. Nàng đặt nó riêng với những tờ hình, không đổ các hạt trở lại rãnh. Bảo nhìn vệt đen trên vải. Câu hỏi hắn từng buột miệng hỏi ông Cẩn giờ có một mảnh căn cứ nhỏ, nhưng vẫn chưa đủ để gọi cái giếng là lò.
“Đá có thể bị muội bám từ chỗ khác không ạ?” hắn hỏi.
“Có thể bị nước hoặc bụi đưa tới. Cũng có thể gần đó từng có lửa. Ta chưa xem được phía sâu hơn.” Ông Cẩn lấy bút, chỉ đường lõm trên bản vẽ. “Điều ta chắc hơn là có người đã đục đường này trên mặt đá.”
Bảo ghi hai ý tách nhau: *đường lõm có vết đục; hạt sẫm có thể là muội hoặc bụi than*. Hắn không viết chúng cùng một câu như thể người khắc cũng là người đốt lửa.
Ông Cẩn thử soi xuống mép dưới của mặt đá. Đường lõm rẽ ngang rồi khuất sau một mảnh đá đặt nghiêng. Nếu muốn thấy tiếp, họ phải nhìn từ phía khác hoặc mở một phần nền. Người thợ ngồi thẳng, nói không thể quyết định nhấc phiến ngoài chỉ bằng những gì vừa nhìn: cần kiểm xem nền đã đổi thế nào từ lần ông phụ cha sửa rãnh.
“Ta sẽ hỏi thêm người từng làm cùng cha,” ông nói. “Nếu họ còn nhớ, ta có thể biết phiến nào chỉ đậy rãnh, phiến nào giữ phần bên trong.”
Bảo thất vọng một chút. Hắn tưởng chiếc gương sẽ cho thấy cả đường khắc. Nhưng khi nhìn mảnh vải có mấy hạt đen và hình vẽ mới, hắn biết hôm nay họ đã thấy nhiều hơn hôm qua. Ông Cẩn cũng không rời đi tay không: ông mang bản vẽ để hỏi người khác.
“Con có thể chép một bản đưa ông không?” hắn hỏi.
“Được. Để ta giúp cháu ghi các khoảng bị che.”
Hai người ngồi ở mép sân. Bảo vẽ mặt đá, đường lõm và mảng sẫm; ông Cẩn chỉ những chỗ hắn cần để trống. Ông Thuận giữ tờ giấy khỏi gió. Thanh Nghi ghi thêm cách họ lấy vài hạt đã bong, rồi cùng Bảo so bản mới với hình nàng vẽ hôm trước.
Lúc ngẩng lên, Bảo thấy Ô Kê không ở sân. Hắn vừa định gọi, rồi nhớ con gà vẫn trong lồng ở nhà bà Mạnh. Hắn nhìn giếng, nói nhỏ: “Hôm nay ngươi không thấy, nhưng ta sẽ kể.”
Khi nhóm trở về, Hổ ra hiên báo: “Bà Mạnh đã để hai tay gần chỗ bột còn lại hơn lúc các ngươi đi.”
Bảo vào nhà ngay. Chiếc bánh đã đặt xuống vẫn trên bàn. Bàn tay bà không còn ở đúng vị trí ban trưa, nhưng cũng chưa cầm phần bột khác. Dư An kể ông và Hổ thay nhau nhìn; không ai thấy một cử động rõ ràng bằng mắt thường, chỉ thấy vị trí thay đổi khi so sau một quãng.
Bảo kéo ghế, kể chuyện gương nhỏ và những hạt đen. Hắn đặt bản vẽ gần lá thư, không đặt mảnh vải có mẫu lên bàn làm bánh. Hắn muốn bà nhìn thấy chiếc bánh mình vừa đặt, còn những thứ của nhóm thì để sang một bên.
“Bà đã làm xong một cái,” hắn nói. “Chúng con cũng tìm được thêm một đường ở giếng.”
Ông Cẩn chào bà trước khi về. Ông Thuận đi cùng ông tới ngã chia, hẹn nếu hỏi được người từng sửa rãnh sẽ nhắn qua giếng ngoài. Bảo cảm ơn hai người, tiễn tới hàng rào rồi quay lại hiên.
Ô Kê nghiêng đầu khi hắn tới gần. Hắn kể con gà nghe họ đã soi chỗ nó từng mổ, đã thấy đường đục trên mặt đá phía trong và lấy được mấy hạt sẫm. Nó nghe tới đâu thì hắn không biết; nó chỉ mổ vào tay hắn, rồi nhìn ra đường.
Bảo mở lá thư cho bà Mạnh. Hắn viết: *Hôm nay bà đặt chiếc bánh xuống. Chúng con nghe thấy.* Dưới đó, hắn viết thêm chuyện ông Cẩn nhìn được đường đục và những hạt giống muội.
Viết xong, hắn đọc lại dòng đầu. Lần đầu từ khi về, lá thư không chỉ kể những việc hắn đã làm bên cạnh bà. Nó có một việc bà đã hoàn thành. Bảo gấp thư, đặt dưới chiếc bát sạch, rồi kéo ghế ngồi gần bàn, nơi chiếc bánh vẫn nằm nghiêng giữa ánh chiều.