Chương 469: Dòng Chuyển Phần
Bảo lấy chiếc thước tre đặt cạnh nét sóng.
“Đừng chạm vào giấy,” người sửa giấy nói.
Hắn nhấc thước lên. Bà trải một tờ lót mỏng, để hắn đặt thước trên đó. Hai mảnh giấy được tách hôm trước vẫn còn yếu ở mép. Phần đã mất nằm giữa một đường cong và một nét ngắn, không thể ghép khít chỉ bằng cách đẩy lại gần.
Thanh Nghi mở bản ghi từ cửa biển. Trên đó có hình tấm đồng, dấu hướng về khe thoát và các số đo gần đây. Nét dưới vạch thấp không giống phần nét sóng ở trang sổ. Nàng đặt hai tờ cạnh nhau, nói rõ sự khác nhau cho bà Mạnh nghe.
“Có thể là hai dấu khác nhau. Cũng có thể là cùng một dấu bị thiếu phần,” nàng nói. “Hiện tại con không biết.”
Bảo nhìn nét ngắn còn lại. Hắn muốn viết *cửa biển* vào khoảng trắng, vì đó là nơi hắn vừa đến. Nhưng ông Sửu từng nhận nhầm một tờ phiếu chỉ vì ngày gần nhau; phải ghép được mép và đọc mặt sau, mọi người mới biết phiếu nói về lượt nào. Hắn lấy giấy riêng ghi: *Dấu giống sóng, nơi nhận chưa rõ.*
Bà Mạnh lật trang trước. Tại đó, người viết sổ đã ghi hai dòng chuyển phần, mỗi dòng có một dấu ở cột nơi nhận. Một dấu giống chiếc lá, dấu kia là hai vòng nhỏ. Trang sau bị dính vào bìa; người sửa giấy nói chưa nên tách ngay, sẽ xem tiếp khi giấy đủ khô.
“Có trang chỉ nghĩa các dấu không?” Hổ hỏi.
“Chưa tìm thấy,” bà Mạnh đáp. “Nhưng người giữ sổ sau Mộc từng chép lại những phần bà nhớ. Ta sẽ hỏi gia đình bà xem bản đó có dấu nào giống không.”
Người con cả của người giữ sổ cũ đến sau bữa trưa, mang bản chép gia đình đã cho xem trước đây. Người ấy trải tờ giấy, chỉ một dòng bên lề: hai vòng nhỏ được gọi là *bến trong*. Dòng dưới có một nét cong, nhưng phần giải thích chỉ còn chữ *nước*.
“Bà có từng kể bến trong ở đâu không?” Bảo hỏi.
“Bà kể có một nơi nhận phần qua đường nước. Tôi không biết đó là biển hay sông.”
Thanh Nghi chép hai dấu theo đúng vị trí, ghi nguồn bên cạnh. Bảo hỏi người con cả có muốn nhìn trang vừa tách không. Người ấy cúi xuống, đọc ngày và số, rồi nói không nhận ra chữ ở cột nơi nhận. Nhưng người ấy nhớ mẹ từng nhắc một chuyến được chuyển qua hai người: người giao phần và người giữ đường.
“Có phải mẹ bác là người giữ đường?”
“Không. Bà chỉ nhớ đã nhận một mẩu giấy báo chuyến đi.”
Bà Mạnh hỏi bản gia đình còn mẩu giấy ấy không. Người con cả nói sẽ tìm trong rương, không hứa tìm được. Bảo không muốn người ấy về ngay chỉ vì câu hỏi của hắn; ngoài sân đang nắng, người khách còn chưa uống hết bát nước. Hắn mang gói cá khô bà Liên gửi ra, hỏi có muốn nếm không. Người ấy nhận một miếng nhỏ, nói cá mặn hơn cá ở chợ trong núi.
“Ở biển con cũng ăn mặn hơn,” Bảo nói.
Tín từ bếp thò đầu ra. “Huynh có mua thêm nước không?”
“Có.”
“Vậy cá không rẻ như huynh nghĩ.”
Hắn nhìn cậu. “Đệ đã ăn phần của mình chưa?”
“Chưa. Bà Mạnh bảo đợi nấu canh.”
Bảo cất gói cá lên kệ cao. Ô Kê đứng phía dưới, ngẩng đầu nhìn theo, rồi quay sang Tín như tìm người dễ nói chuyện hơn.
Đầu chiều, một người mang tin từ trạm đến. Anh đưa thư của Tề cho bà Mạnh và một phong bì nhỏ gửi Thanh Nghi. Thư chung đề xuất ngày gặp tại trạm lớn giữa đường, có người trực cửa biển, người ở Lạc Kê và đại diện điện. Tề ghi điện sẽ trả tiền xe đi và về cho hai người mỗi nơi; nếu có thêm người, xin báo trước để sắp xếp.
Bảo đọc tới dòng tiền về, ngẩng lên. “Lần này có ghi rồi.”
Bà Mạnh đọc tiếp: người tham dự được xem bản ghi trước khi điện chuyển đi; ai không đồng ý với phần ghi lời mình có thể yêu cầu sửa hoặc ghi ý kiến riêng. Cuộc gặp không yêu cầu mang chiếc nồi. Tuy vậy, điện muốn bàn cả đề án đặt một người phụ trách phần của chín cửa.
“Con vẫn không nhận việc ấy,” Bảo nói.
“Con có muốn đi nghe không?” bà hỏi.
“Có. Con muốn hỏi người lập đề án vì sao không ghi tên người đang trực ở từng cửa.”
Hổ nói anh có thể đi nếu mọi người cần, nhưng không muốn nhận là đại diện cho toàn bộ người làng. Người chị nhà bác giữ dây muốn biết người ở cửa biển có đi được không; bà Liên từng nói cần bàn người thay ca. Thanh Nghi đề nghị gửi thư hỏi Tề danh sách những nơi đã nhận lời, đồng thời viết riêng cho bà Liên nếu bà muốn trao đổi.
Bà Mạnh không thể đi xa nhiều ngày vì còn nhận việc trong làng. Bà muốn Bảo mang theo câu hỏi về cách báo khi một cửa cần người thay, nhưng không đưa danh sách trực. Ông giữ danh sách đồng ý dự một cuộc bàn ở từ đường trước khi họ đi, để tự nói phần nào được chuyển.
Thanh Nghi mở phong bì riêng sau khi ra hiên. Lát sau nàng trở vào, nói người ký lệnh đã gửi tin: người cuối cùng từng trực tiếp nhận chỉ thị từ ông đã xác nhận biết lệnh chém nồi bị rút. Nàng đưa phần liên quan cho Bảo xem. Bức thư còn có lời hỏi thăm riêng, nàng giữ lại.
Bảo đọc, thấy ngày nhận tin và chữ ký xác nhận. Hắn nhớ Hổ từng hỏi liệu ở đâu đó còn người giữ lệnh cũ. Hắn không thể biết mọi lời truyền miệng đã dừng, nhưng những người nhận trực tiếp mà người ký liệt kê đều đã được báo.
“Con muốn bà Mạnh biết phần này,” hắn nói.
“Ta sẽ nói.” Thanh Nghi gấp thư. “Còn cuộc gặp, ta muốn đi cùng. Ta sẽ tự hỏi điện về bản ghi và người trực cửa khác.”
Bà Mạnh nghe tin, bảo nàng không cần gửi cả thư riêng. Bà ghi vào sổ làng ngày nhận thông báo, tên người đã xác nhận và nguồn tin từ Thanh Nghi. Hổ xem rồi hỏi tờ lệnh rút có cần mang theo cuộc gặp không. Bà nói có thể mang bản chép, nhưng chỉ phần liên quan chiếc nồi; bản gốc tiếp tục để trong hộp làng.
Người con cả của người giữ sổ cũ nghe chuyện cuộc gặp, xin về hỏi gia đình trước khi quyết có cho chép những dòng họ giữ không. Bảo nói hắn không cần mang ngay; hắn đang có câu hỏi về dấu sóng, không phải câu trả lời. Người ấy nhận bản vẽ dấu, hẹn khi tìm được mẩu giấy báo chuyến sẽ gửi tin.
Buổi tối, Tín nấu canh cá khô. Cậu cho ít cá trước, nếm rồi mới thêm. Bảo định đổ cả nắm vào nồi, cậu cầm muôi chắn lại.
“Huynh vừa về mà đã quên canh mặn ở biển?”
“Ta nhớ. Nhưng cá ít thì làm sao biết có cá?”
“Ăn sẽ biết.”
Bảo ngồi chờ. Ô Kê chạy theo mùi, nhảy lên ghế. Hắn đặt chiếc rổ không có nắp xuống cho nó; nó đứng ngoài rổ, nhìn cái nồi. Tín múc một ít canh ra bát nhỏ, để nguội rồi lấy miếng cá không xương cho gà. Nó ăn xong, vẫn không chịu vào rổ.
Ăn xong, bà Mạnh hỏi Bảo còn bao nhiêu tiền sau chuyến đi. Hắn đếm, ghi số còn lại cùng đồng Mộc để riêng. Hắn chưa biết có cần trả thêm cho chuyến tới nếu điện mời nhiều người; hắn sẽ không tính khoản ấy là đã được trả cho đến khi nhận câu trả lời.
Hổ nhận ca tối. Bảo đi cùng anh ra từ đường, mang bản chép của Vĩnh. Anh đọc, hỏi ở cửa biển người trực có phải thức suốt đêm không. Bảo kể họ đổi lượt, có người dự phòng nhưng người ấy còn chăm mẹ. Hổ nghe rồi nhìn bảng ca của làng.
“Ở đây cũng có người phải về nhà. Nếu điện hỏi một cái tên, ta muốn họ thấy cả giờ thay.”
Bảo lấy giấy trắng Mộc để lại. Hắn thêm dưới dòng *người trực*: *Giờ nhận, giờ giao, người được báo nếu chưa có người thay.* Hắn chưa ghi tên ai. Hổ đọc, nói còn thiếu cách liên lạc khi đường bị chặn. Hắn thêm một khoảng trống cho việc ấy.
Ngoài giếng, cô em nhà bác giữ dây đưa đèn cho người chị. Hai người đối mực nước và báo giờ. Bảo không hỏi họ đi họp thay làng ngay đêm đó. Hắn ngồi cạnh Hổ, nhìn tờ giấy có thêm mấy dòng và một khoảng trống ở cuối.
Tấm giấy trắng đã không còn trắng nữa, nhưng vẫn còn chỗ để người khác viết.