Chương 405: Cái Quai Nồi
Sáng sớm, Hổ mang chiếc nồi lớn ra sân.
Anh không nhấc bằng quai lỏng mà ôm lấy đáy. Bảo thấy vậy vội chạy tới đỡ. Hai người đặt nồi lên chiếc ghế thấp; quai bên trái rung lên một tiếng lách cách.
“Có thể buộc dây không?” Bảo hỏi.
“Buộc để nhấc nồi đầy thì ta không yên tâm.”
Hổ đặt ngón tay vào chỗ quai nối với thân nồi. Đinh giữ đã mòn, lỗ bên cạnh cũng rộng hơn. Anh bảo phải hỏi người biết sửa đồ đồng xem có thay đinh được không. Người nhà ông giữ danh sách đã nói chiếc nồi thuộc nhà mình, nên trước khi đem đi, họ cần hỏi người ấy.
Người nhà vừa trở về từ giếng riêng, nghe chuyện thì đồng ý cho mang nồi đến bác thợ ở gần chợ. Người ấy còn bảo bác thợ thích uống trà nhạt, nếu đi qua có thể mang ít lá trà làm quà. Hổ nhận lời, nhưng nói sẽ hỏi tiền công và thời gian sửa trước; chiếc nồi không cần có mặt ngay trong ngày.
Bảo muốn đi cùng. Hắn đã hết ca, Thanh Nghi nhận trực thay. Hai người cùng xem bát nước và đèn. Mực nước vẫn gần dấu tạm, thành bát khô. Thanh Nghi đọc lại những điều cần báo, rồi bảo hắn cứ đi. Hắn mang chiếc nồi rỗng cùng Hổ, mỗi người giữ một bên đáy.
Đường đến chợ còn vắng. Hôm qua người đẩy xe đã nhận thư hỏi chú Quý và chú Ba; nếu trời không mưa, hôm nay anh có thể lên đường. Bảo nhìn về phía bãi hàng, thấy một xe phủ vải nhưng không nhận ra có phải xe ấy không. Hắn định rẽ vào hỏi, Hổ nhắc hai người đang mang nồi, còn bác thợ đã được nhờ chờ.
“Ta chỉ nhìn một lát.”
“Vậy đặt nồi xuống trước.”
Họ đặt nồi bên tường, tránh lối đi. Bảo chạy tới đầu ngõ. Chiếc xe dưới tấm vải không phải xe hôm qua; người trông hàng nói có xe đã đi từ sớm, nhưng ông không biết người chở là ai. Bảo cảm ơn, trở lại. Hắn kể đúng điều mình nghe, không bảo lá thư đã đi.
Bác thợ ngồi trước cửa, bên cạnh là một cái ấm đang tháo nắp. Bác nhận túi trà, hỏi chiếc nồi ai đem sửa. Người nhà ông giữ danh sách đã nhờ Hổ chuyển lời; anh nói rõ chủ nồi muốn biết có sửa được không và bao nhiêu tiền. Bác xem quai, lấy một thanh nhỏ thử độ rộng của lỗ.
“Thay đinh được, nhưng phải làm thêm miếng đệm,” bác nói. “Để ta giữ đến chiều. Nếu lỗ thủng rộng hơn lúc tháo, ta sẽ báo trước.”
Hổ hỏi tiền công. Bác nói một số tiền; anh ghi lại để báo chủ nồi, chưa tự nhận thay. Bác đồng ý giữ nồi tại chỗ, chờ lời nhắn rồi mới làm. Bảo nhìn cái quai, hỏi nếu không sửa kịp thì bữa cơm phải hoãn không.
“Các ngươi còn nồi khác chứ?” bác thợ hỏi.
“Có, nhưng nhỏ.”
“Vậy có thể nấu nhiều lượt. Hoặc hỏi người khác có nồi. Đừng bắt cái quai hỏng phải làm việc của hai cái quai lành.”
Bảo giúp Hổ về báo. Người nhà ông giữ danh sách đồng ý tiền công và nhờ người mang lời tới bác thợ. Hổ không quay lại ngay vì phải học tiếp việc ở giếng. Một người hàng xóm định ra chợ nhận chuyển lời; người ấy lặp lại đúng điều cần nói: được phép thay đinh và thêm miếng đệm, nếu thấy hỏng hơn thì báo trước. Người nhà ông cảm ơn và đưa thêm một mảnh giấy ghi tên để bác thợ khỏi nhầm nồi.
Bác giữ dây đã tỉnh táo hơn, muốn chỉ Hổ cách xem dây từ nhà. Hai chị em chuẩn bị một đoạn dây nhỏ và chiếc chốt gỗ đem về cho bác giải thích. Bảo hỏi có thể nghe cùng không. Hổ đồng ý, nhưng nhắc phải trở lại thay Thanh Nghi trước khi hết lượt.
Trong nhà cửa xanh, bác giữ dây ngồi gần cửa, chăn đắp ngang chân. Người chị đặt đoạn dây lên bàn. Bác cầm chốt, luồn dây qua rồi chỉ cho Hổ chỗ thường bị lá và cành mắc vào.
“Đừng kéo dây để thử xem có chắc không,” bác nói. “Nhìn chỗ nó cọ vào gỗ, xem có sờn hay lệch. Nếu thấy khác mà không hiểu, gọi ta hoặc bà Mạnh.”
Hổ làm thử trên đoạn dây. Anh luồn đúng, nhưng đặt chốt ngược; bác xoay lại, bảo đầu có rãnh phải hướng ra ngoài để dễ nhìn. Bảo nhìn hai đầu, thấy khác nhau rất ít. Hắn định nói có thể đánh dấu bằng mực. Bác bảo được, nhưng dấu mực trên đoạn tập không thay cho việc nhìn chốt thật ngoài giếng.
“Cháu có thể ra đó xem không?” Hổ hỏi.
“Đi với người nhà ta. Ta chưa ra được.”
Cô em dẫn hai người trở lại giếng. Chốt thật lớn hơn đoạn tập, có vết cũ ở mép gỗ. Hổ không chạm vào dây, chỉ chỉ chỗ bác vừa mô tả. Cô xác nhận đúng, rồi chỉ thêm phần rãnh cần nhặt lá. Hai người thay nhau làm, trong khi Bảo nhìn mặt trời và ước lượng lúc phải trở về.
Tại cửa từ đường, Thanh Nghi báo mọi thứ trong phòng trực vẫn như trước. Bảo nhận ca, cùng nàng xem bát nước. Hắn kể bác giữ dây đã chỉ Hổ trên một đoạn dây tập; ở giếng, anh cũng đã xem chốt thật cùng người nhà bác. Nàng ghi Hổ đang học, còn việc trông giếng vẫn do người nhà bác và những người đã nhận thay đảm nhiệm.
“Cháu có thể học lượt sau,” nàng nói.
“Con muốn học ngay.”
“Bây giờ cháu đang trực.”
Hắn biết nàng nói đúng. Nhưng từ cửa phòng hắn vẫn nghe tiếng Hổ hỏi cô em ngoài sân, nghe tiếng bác giữ dây được người chị đọc lại những điều vừa làm. Hắn nhờ Thanh Nghi ghi những câu hỏi còn chưa rõ để khi đổi ca mình có thể hỏi tiếp.
Buổi trưa, người bên cây mận đến mang rau. Bảo kể họ định mời nhiều nhà ăn cơm chung, hỏi bà có muốn đến không. Bà bảo muốn biết ăn hôm nào; ngày mai bà phải ra ruộng, chưa chắc đến được. Nếu có người mang cơm về cho mẹ già thì bà muốn nhận hai phần, còn bản thân có thể ăn muộn.
“Bà có thể mang bát đến không?” Bảo hỏi.
“Có thể. Nhưng nếu trời mưa, ta cần biết trước để nhờ con gái.”
Thanh Nghi ghi lời bà, để ngày trống vì mọi người chưa quyết. Bảo thấy thêm một việc: họ phải báo lại, không chỉ hỏi một lần rồi tự chọn ngày. Người bên cây mận nói nhà bà còn chiếc xe chở gạo cũ; nếu cần chở nồi, có thể xem bánh trước. Hổ hẹn sau khi ăn sẽ sang xem, chưa nhận chắc xe dùng được.
Ông Thuận ghé qua, báo người chở hàng đã rời làng sáng nay. Ông tận mắt thấy chiếc xe và đã hỏi người ấy; anh vẫn mang phong bì. Bảo mở sổ, thêm tin chuyến xe đã đi, nhưng ông Thuận không biết xe đến trạm chưa. Ông giữ danh sách nghe xong, hỏi có ai đi cùng không. Ông Thuận nhớ có một người đẩy phụ đến đầu đường, sau đó ông về nhà nên không biết tiếp.
Bảo muốn hỏi thêm nhưng ông Thuận đang xách một bó củi. Hắn giúp ông đặt xuống, hỏi bó này dành cho bếp từ đường hay nhờ chuyển đi. Ông nói góp cho bữa cơm chung, có thể dùng trước nếu bếp thiếu. Tín nhận, để riêng cạnh chỗ khô và ghi người góp để sau còn báo đã dùng bao nhiêu.
Chiều đến, bác thợ gửi tin đã tháo quai. Lỗ rộng hơn dự tính một chút nhưng vẫn sửa được bằng miếng đệm; bác hỏi chủ nồi có đồng ý không. Người nhà ông giữ danh sách sang tận nơi xem cùng Hổ. Bảo ở lại nhận ca. Đến lúc họ về, người nhà nói đã đồng ý, tiền công không đổi; bác thợ hẹn sáng mai có thể đến lấy nếu không phát sinh thêm việc.
Ông giữ danh sách hỏi nồi có nứt không. Người nhà đáp bác thợ chưa thấy vết nứt, nhưng mới xem phần quanh quai. Ông bảo lấy về rồi rửa, thử nước ít trước khi nấu. Hổ nói sẽ giúp. Ông nhìn Bảo: “Không được đổ đầy rồi nhấc lên thử.”
“Con có định thế đâu.”
Hổ nhìn hắn. Hắn nhìn lại, rồi thú nhận: “Con vừa định hỏi.”
Buổi tối, Dư An ghé từ đường sau khi thăm các nhà. Ông nói có một nhà muốn nhận cơm tại cửa vì người trong nhà còn yếu; họ đồng ý để Dư An chuyển lời, nhưng chưa quyết ngày nào. Một nhà khác đã tự nấu được, có thể góp rau nếu biết trước. Thanh Nghi chép riêng từng lời, hỏi ông có được phép ghi tên không. Ông bảo hai nhà đồng ý ghi để sắp xếp bữa ăn, nhưng không muốn kể tình trạng riêng cho cả làng.
Bảo nhìn tờ giấy. Có người muốn ngồi chung, có người muốn ăn ở nhà, có người chưa biết ngày nào rảnh. Hắn hỏi Dư An làm sao nấu vừa đủ. Ông đáp chưa ai đếm được ngay; họ có thể chọn ngày, hỏi lại, và dành cách nấu thêm nếu có người đến muộn.
Trong bếp, Tín thử đặt hai chiếc nồi nhỏ cạnh nhau. Bếp đất chỉ đủ cho một chiếc, nhưng sân còn chỗ dựng thêm bếp. Hổ nói có thể mượn gạch của nhà mình; anh sẽ hỏi người nhà trước. Bảo nhìn khoảng đất, hình dung hai ngọn lửa cháy song song, rồi một ngọn thứ ba nếu có đủ củi.
“Con sẽ nấu,” hắn nói.
Tín đưa hắn bó rau chưa nhặt. “Bắt đầu từ đây.”
Bảo ngồi xuống. Ô Kê đứng cạnh rổ, mổ một lá sâu. Hắn định đuổi, nhưng nhớ lá ấy vốn bỏ đi. Hắn nhặt phần rau ăn được, để lại lá hỏng bên mép rổ cho con gà. Ngoài sân, Hổ và Thanh Nghi trao đổi lượt trực; trong phòng, bát nước vẫn nằm trên bàn cạnh ngọn đèn.
Bữa cơm cho cả làng chưa có ngày. Nhưng chiếc nồi lớn đang được sửa, một chuyến xe đã mang lời nhắn lên đường, và Hổ đã biết thêm một việc phải nhìn ở giếng. Bảo nhặt hết bó rau, bưng vào bếp, chờ Tín bảo nước đã sôi.