Chương 378: Vạch Dưới Đáy Nồi
Tạ Tiểu Bảo vẽ hai đường lên bàn.
Đường thứ nhất là nơi hắn nhớ đã thấy vệt sáng dưới đáy nồi. Đường thứ hai là nơi Thanh Nghi thấy. Hai đường không chồng lên nhau; giữa chúng đủ chỗ đặt một hạt đậu.
“Con muốn biết cái nào đúng,” hắn nói.
Hổ lấy hạt đậu trên bàn bỏ lại vào bát. “Trước tiên phải biết hôm qua các cháu đứng đâu.”
Bảo đứng phía có cửa, Thanh Nghi đứng bên kia. Ông Cẩn ngồi xuống vẽ lại vị trí từng người. Ông nói nếu hai người nhìn một vật từ hai phía, vị trí vẽ trên giấy có thể khác dù cùng nhìn một vệt. Cũng có thể họ thấy hai thứ khác nhau. Không có gì trong hai bản vẽ tự cho biết câu trả lời.
Bảo nhìn đường phấn. “Nếu con đứng chỗ nàng nhìn, có thể thấy đúng như nàng không?”
“Có thể thử, nếu bà Mạnh muốn chúng ta thử lại.”
Bà Mạnh đã thức. Hôm qua bà bảo dừng sau lượt thứ hai, nên họ không tự bắt đầu lại. Dư An đọc hai bản vẽ cho bà nghe, kể cả việc lượt sau không ai chắc đã thấy vệt sáng. Bà nhìn Thanh Nghi, rồi nhìn Bảo; ngón tay bà chạm vào hai đường trên giấy.
“Bà muốn chúng con đổi chỗ nhìn?” Thanh Nghi hỏi.
Bà gật. Sau đó bà đưa tay về phía ngực mình rồi chỉ Ô Kê ngoài hiên. Bảo nhắc lại cách hôm qua: hắn giữ quai, nói rõ chưa chia, đợi hết một lượt cát, Ô Kê ở gần. Bà khẽ gật, nhưng khi hắn nói sẽ làm ngay, bà chạm vào bát cháo.
“Ăn trước,” Dư An hiểu.
Bảo nhìn bát. Hắn vẫn đói. Hắn ăn hết một bát, xin thêm nửa bát rồi mới rửa tay. Ô Kê cũng được ăn và uống nước. Con gà mổ hết chỗ thóc đã đong, đi quanh lồng một lúc rồi đứng nhìn chiếc sọt. Hắn đặt thêm nước, không đổ thêm thóc chỉ để dỗ nó đứng yên.
Trước khi bắt đầu, Tín tới báo người chuyển tin sáng nay phải về sớm. Lịch nghe ở giếng được đẩy lên trước bữa trưa; Thanh Nghi và Cẩn đi cùng cậu. Bảo và Hổ mang Ô Kê ra sau khi bà Mạnh đã nghỉ.
Ở giếng, bác giữ dây gàu đang đứng. Bên cạnh bác có một người phụ nữ trẻ mang túi vải; ông Thuận giới thiệu đó là người nhà bác, sáng nay đến đưa bánh. Cô kể bác đã tự ăn được một phần, phần còn lại cất trong túi. Bảo chào, nhờ cô trông đường đi khi con gà ra khỏi lồng. Cô đồng ý ở lại tới khi lượt nghe xong.
Ô Kê uống nước, gõ hai tiếng cạnh chiếc ghế. Tiếng đáp vang lên rõ hơn hôm qua. Hổ nghe, Bảo nghe, người phụ nữ cũng nghe được. Tờ giấy từ phòng trực ghi Thanh Nghi và Cẩn cùng nghe một âm trầm sau hai tiếng gõ. Bảo ghi tên từng người, rồi đóng cửa lồng khi Ô Kê tự quay vào.
Người phụ nữ nhìn bản ghi, hỏi những tiếng ấy có làm bác giữ dây nhanh hơn không. Bảo không biết phải trả lời thế nào. Hắn kể bà Mạnh nói đó là cách nghe đường gió, lúc có lúc thiếu. Hôm nay họ nghe thấy, nhưng bác vẫn cử động chậm.
“Vậy ghi lại để làm gì?” cô hỏi.
“Để biết khi nào thiếu, và người sau không phải bắt đầu từ đầu.” Hắn ngập ngừng. “Chúng cháu đang tìm cách giúp cả làng, nhưng chưa làm được.”
Cô nhìn bác giữ dây, rồi hỏi có thể xem bản ghi khi về không. Bảo đưa tờ giấy. Cô đọc chậm, chỉ vào cột người nghe và nói tên mình. Hắn viết tên theo lời cô, đọc lại cho cô nghe trước khi gấp giấy.
Trên đường về, Hổ hỏi Bảo có buồn vì chưa trả lời được không. Hắn đáp có. Hắn muốn bảo cô rằng ngày mai bác sẽ về nhà và ăn cơm bình thường, nhưng không ai trong nhóm biết điều ấy. Anh nói ít nhất cô đã biết những gì họ đang làm và có thể hỏi tiếp; một câu chưa có đáp án không làm câu hỏi của cô sai.
Ở nhà, bà Mạnh nghe lượt sáng. Hắn báo cả người nhà bác giữ dây cũng đã nghe tiếng đáp và xin xem bản ghi. Bà nhìn tờ giấy, đặt tay lên tên người phụ nữ, rồi nhích về phía dòng có chữ *có*. Dư An không hỏi thêm; ông đưa nước, để bà nghỉ trước khi xem nồi.
Đến chiều, chiếc nồi được đặt trên bàn, nắp để bên cạnh. Ô Kê ở gần, lồng mở, máng nước dưới nền. Hôm qua Bảo đứng phía cửa, Thanh Nghi ở bên kia; hôm nay họ đổi chỗ. Hổ đứng xa hơn để có thể nhìn lòng nồi mà không che ánh sáng. Cẩn đặt đồng hồ cát ở vị trí hôm qua, rồi lật.
Bảo cầm hai quai, nói tên mình và nhắc rằng hắn chỉ muốn biết phần, chưa chia. Con gà uống nước, sau đó đứng gần chân ghế. Những hạt cát rơi đều. Không ai nói trong một lúc; từ ngoài đường vọng tới tiếng xe ông Thuận và tiếng gió qua hàng rào.
Khi cát còn khoảng một phần tư, một vệt sáng xuất hiện dưới đáy. Lần này nó không tắt ngay. Bảo nhìn thấy rõ một đường cong mỏng, như đường nước để lại khi một cái bát vừa được nhấc lên. Thanh Nghi thấy cùng lúc; Hổ cúi nhìn sau họ và cũng thấy vệt ấy.
“Đừng chạm vào,” bà Mạnh nói.
Hắn giữ quai, không nhấc nồi. Ô Kê phát một tiếng khàn. Vệt sáng kéo dài thêm một chút, rồi dừng. Tín lấy hai tờ giấy, đặt trước Bảo và Thanh Nghi. Họ vẽ từ nơi mình đứng; lần này hai bản vẫn khác góc, nhưng khi Cẩn xoay một tờ cho đúng hướng cửa, hai nét gần trùng nhau.
“Ta thấy đường cong,” Hổ nói. “Ta không thấy nó kéo dài, vì cúi xuống sau.”
Thanh Nghi ghi riêng điều anh thấy. Vệt sáng mờ đi khi hạt cát cuối rơi. Bảo muốn giữ nó lại bằng mắt, nhưng nó đã tắt. Hắn buông quai, bàn tay mỏi. Dư An kiểm các ngón tay hắn, thấy không bị bỏng hay trầy; ông đưa nước cho hắn uống.
“Đó là vạch đo?” Bảo hỏi bà.
Bà nhìn hai bản vẽ. Sau một lúc, bà nói: “Mé... phần.”
“Mép của phần trong nồi?”
Bà gật.
Bảo nhìn đáy nồi đã tối. Hắn lấy chiếc bát, đặt cạnh bản vẽ, tưởng tượng một vòng tròn. Nhưng vệt họ thấy chỉ là một đoạn cong. Nếu nó là mép một phần, hắn chưa biết phần ấy lớn tới đâu hay có đủ để dùng cho cửa.
“Phần của con nằm ở phía trong đường ấy?” hắn hỏi.
Bà đưa tay lên, nhưng dừng lại giữa chừng. Dư An đỡ tay, đặt lên khăn. Ông bảo bà đã cố nói nhiều; cả nhóm nên nghỉ. Bảo cất câu hỏi vào giấy, không lật nồi hay đổ nước vào để xem đường cong tiếp tục ở đâu.
Hổ mang Ô Kê ra hiên. Con gà ăn một ít thóc, rồi rúc đầu dưới cánh. Bảo ngồi cạnh, cầm hai bản vẽ. Hắn xoay tờ của mình theo hướng tờ của Thanh Nghi, thấy hai nét gần nhau hơn. Hôm qua hắn đã nghĩ một trong hai phải sai; hôm nay ông Cẩn chỉ cho hắn biết hai góc nhìn cũng có thể tạo ra khác biệt.
“Vậy con đo được rồi chưa?” hắn hỏi.
Ông Cẩn ngồi sửa quai chiếc giỏ người đàn bà gửi nhờ kiểm thêm. “Cháu đã nhận ra một mép, theo lời bà. Nhưng một mép chưa cho biết cả phần, và ta còn chưa có thước để so với phần cửa cần.”
“Phải nhìn hết vòng?”
“Có thể. Cũng có thể trong sổ có cách khác. Ta không biết.”
Bảo cầm giấy về bàn, viết: *Ba người thấy vệt cong; bà Mạnh nói đó là mép phần. Chưa biết toàn bộ kích thước.* Hắn kể lại cho bà, bà chạm vào dòng đầu. Khi hắn đọc dòng thứ hai, bà nhìn nồi rồi nói: “Đáy... hết.”
“Phải thấy hết đáy?”
Bà khẽ gật.
Hắn nhớ ngày đầu dùng thước đo chiều sâu nhìn thấy; khi ấy hắn đã thấy cả đáy đen, nhưng không thấy phần. Bây giờ hắn cần thấy hết đáy theo nghĩa khác. Hắn hỏi có phải chờ Ô Kê kêu không. Bà chưa trả lời, mắt đã mỏi. Dư An đề nghị để ngày mai tiếp tục.
Buổi tối, người phụ nữ ở giếng gửi tới nhà bà Mạnh một gói rau và lời nhắn cảm ơn đã cho xem bản ghi. Hổ nhận rau, nói ngày mai sẽ báo họ đã nấu. Bảo rửa rau, cắt phần lá hỏng; hắn không quen được cảm ơn vì một tờ giấy chưa giải quyết được vấn đề. Thanh Nghi bảo tờ giấy cho người nhà bác giữ dây biết có ai đang theo dõi và có thể hỏi ai.
Bữa tối có cơm, rau và ít cá. Bảo ăn hai bát, vẫn muốn ăn thêm. Hổ hỏi hắn có muốn để dành phần cơm còn lại cho sáng không. Hắn nhìn nồi, rồi xin thêm nửa bát; phần còn lại để cho sáng. Hắn không giả vờ mình đã no chỉ vì đang học cách đong.
Sau bữa ăn, bà Mạnh gọi hắn lại. Bà chỉ vào bản vẽ đường cong, rồi chạm vào tay hắn. Mất một lúc bà mới nói được: “Con... có quyền.”
“Quyền chọn phần của con?”
Bà gật. Hắn nhìn bà. Từ lúc biết cửa cần một phần, hắn đã sợ có người nói rằng mình phải đưa phần ấy đi, hoặc ngược lại, không ai cần nó cả. Bà không bảo hắn chọn bên nào. Bà chỉ nói phần ấy thuộc về hắn.
“Con muốn biết đủ rồi mới chọn,” hắn đáp.
Bà giữ tay hắn một lúc. Ngoài hiên, Ô Kê vừa tỉnh, mổ vào máng nước. Hổ đứng dậy thay nước, còn Bảo ở lại bên bàn. Đường cong trên giấy nhỏ hơn một hạt đậu, nhưng đã có ba người nhìn thấy và một người biết tên nó. Ngày mai, hắn sẽ tìm cách nhìn hết phần còn lại trước khi quyết định phải làm gì.