Chương 284: Đường Đi Của Một Chiếc Bao
Sáng sớm, Tạ Tiểu Bảo bị tiếng Xám hắt hơi đánh thức.
Hắn mở cửa sổ. Con la đứng dưới mái hiên, bó cỏ đêm qua bị nó bới tung một nửa. Ô Kê đã ra khỏi lồng, đang mổ những hạt lẫn trong cỏ. Hổ cầm chổi đuổi gà sang một bên, còn Dư An ngồi trên bậc cửa buộc lại dây túi thuốc.
“Có thư rồi à?” Bảo hỏi.
“Chưa,” Hổ đáp. “Chỉ có Xám tìm được chỗ bà chủ quán giấu cỏ ngon.”
Bảo vội xuống xin lỗi. Bà chủ nhìn bó cỏ, tính tiền phần bị kéo ra, rồi đưa cho hắn một chiếc sọt để nhặt. Hắn trả tiền và cúi xuống làm. Ô Kê đi theo, mỗi lần hắn nhặt được một nắm thì nó lại bới ra một hạt. Cuối cùng hắn đành đổ ít thóc vào bát trước; con gà bận ăn, công việc mới xong.
Thanh Nghi bước ra khi hắn đang buộc miệng sọt. Nàng mang theo bản xác nhận giữ hòm và sổ nhỏ. Tối qua nàng đã tính đường đi, nhưng còn một việc muốn làm trước khi rời trạm: hỏi sổ giao nhận, xem chiếc bao đến đây qua những tay nào.
“Người ghi hàng bảo sổ của trạm chỉ bắt đầu từ lúc nhận,” Bảo nói. “Ta muốn biết đoạn trước đó.”
“Ta cũng vậy. Nếu có tên nơi giao trước, người ở ngoại viện có thể hỏi đúng chỗ.”
Hổ đã xếp phần lớn đồ lên lưng Xám. Anh nhìn trời: sương còn phủ ngang lưng dốc, đi muộn một chút vẫn có thể tới trạm nghỉ trước tối nếu đường không quá khó. Dư An kiểm tra bình nước, đề nghị mua thêm bánh khô. Bảo nhận việc, nhưng xin hỏi sổ trước, kẻo người giữ kho lại bận.
Người giữ sổ đang ở bàn dưới mái che. Nghe Thanh Nghi trình bày, ông lấy quyển đã mở hôm trước, chỉ mục hòm có chiếc bao đen. Hôm qua họ mới hỏi vật còn ở đây hay không; hôm nay ông cho họ xem thêm dòng ghi chuyến hàng đưa hòm đến trạm. Những mục khác được ông che lại bằng tờ giấy trắng.
Dòng giao ghi tên một điểm tập kết ngoài bến Tây, ngày nhận tại kho và tên người mang hàng. Sau đó là số hòm, dấu niêm và chữ ký người nhận ở trạm. Không có tên người đã lấy chiếc bao trong kho giấy.
Bảo chép tên điểm tập kết. “Chỗ này có gần kho giấy không?”
“Cùng phía bến, nhưng ta chưa tới đó. Cậu phải hỏi người đi đường ấy.”
Thanh Nghi xem dòng chữ ký. “Người mang hàng có còn ở đây không?”
“Không. Người đó theo đoàn xe, tới rồi đi ngay.” Ông lật tờ giấy che, chỉ một ký hiệu ở mép dòng. “Đây là số giấy giao của chuyến. Nếu cần tra bản bên giao, hãy đưa cả số này. Còn sổ này chỉ chứng nhận ta đã nhận một hòm niêm như thế.”
Bảo viết số giấy vào sổ, rồi nhờ ông xem lại. Hắn viết nhầm một nét, sửa ngay bên cạnh thay vì bôi kín. Người giữ sổ gật đầu, nhưng không cho hắn chép các mục hàng không liên quan.
“Vậy ta biết hòm đi từ đâu tới,” Bảo nói, “nhưng chưa biết bao vào hòm ở đâu.”
“Đúng. Cũng chưa biết ai đặt nó vào.”
Hắn nghĩ đến bóng áo xám trên mái kho giấy. Khi ấy hắn nhìn thấy người kia rời đi, nhưng không đuổi kịp. Suốt đường tới đây, hắn vẫn nhớ động tác chiếc móc kéo bao khỏi hông Thanh Nghi. Mấy dòng trong sổ không khiến bóng người ấy rõ mặt hơn.
Thanh Nghi hỏi có thể gửi yêu cầu đến điểm tập kết không. Người giữ sổ nói được, nhưng phải nêu rõ muốn đối chiếu mục nào và để địa chỉ trả lời. Ông sẽ không hứa bên kia giữ đủ giấy cũ, càng không hứa họ cung cấp thông tin của người khác.
Nàng nhờ giấy, viết số chuyến và ngày giao, đề nghị tìm giấy nhận liên quan đến chiếc hòm. Bảo đứng chờ, thấy nàng viết xong lại gấp tờ đầu bỏ sang bên.
“Chữ sai à?”
“Ta hỏi rộng quá.” Nàng chỉ dòng đã viết. “Xin cả danh sách hàng của chuyến. Trong đó có thể có hàng của người khác, mà ta chỉ cần tìm đường đi của hòm này.”
Nàng viết lại. Lần này người giữ sổ đọc, đồng ý chuyển yêu cầu qua tuyến thư khi có chuyến. Ông ghi ngày nhận yêu cầu và đưa nàng một mảnh xác nhận. Thanh Nghi cất mảnh giấy cùng bản giữ hòm, chừa chỗ riêng cho những thư có thể đến sau.
Lúc họ ra sân, một chiếc xe thồ dừng trước cổng. Bánh xe bên trái kêu cộc cộc. Người kéo xe xuống kiểm tra, phát hiện chốt giữ thanh chắn bị lỏng. Trên xe có mấy bao muối; mỗi lần bánh nghiêng, một bao lại trượt về phía mép.
Bảo chạy tới giữ bao. Người kéo xe định nâng lại một mình, Hổ đã bước đến giúp. Dư An lót mảnh gỗ dưới bánh để xe khỏi lăn. Người kéo tìm được chiếc chốt dự phòng trong túi, nhưng tay dính bùn, mãi không xuyên qua hai lỗ đang lệch.
“Đẩy thanh này lên một chút,” ông bảo.
Bảo dùng vai giữ bao, thấy Hổ đang nâng thanh chắn. Hắn không muốn thả tay. Thanh Nghi đứng bên kia vòng dây qua bao, kéo nó sát vào giữa xe. Bấy giờ hắn mới rảnh tay giữ đầu thanh, để người kéo cài chốt.
Xong việc, người kéo xe mở bình nước đưa cả nhóm. Bảo uống một ngụm, cảm ơn, rồi hỏi ông có đi qua điểm tập kết ngoài bến Tây không.
“Có, nhưng chuyến này ta chỉ qua cổng. Sao vậy?”
Thanh Nghi đưa tên điểm đã chép, hỏi nơi ấy nằm ở đâu. Người kéo xe biết đường, vẽ trên đất một khúc sông và hai lối rẽ. Lối gần kho giấy phải qua một cầu nhỏ; lối còn lại vòng qua bãi xe. Ông vừa dùng que chỉ vừa nói: “Ta biết chỗ, còn chuyện giấy hàng thì phải hỏi người giữ sổ của họ.”
Bảo nhìn hình vẽ. “Nếu thư từ đây gửi tới, thường mất bao lâu?”
“Ta không đưa thư, không dám tính. Đường xe của ta đi hai ngày khi trời tốt. Trời xấu thì khác.”
Hắn chép cả hai lối rẽ vào sổ, ghi thêm đó là lời người kéo xe kể, chưa phải đường chính mình đi. Người kéo nhặt que, xóa hình trên đất trước khi dắt xe vào sân. Bảo nhìn những nét biến mất, thấy cái tên trong sổ đã có thêm một con đường, dù vẫn còn xa.
Ở quán, Hổ mua bánh khô trong lúc Bảo giúp xếp xe. Bà chủ gói cho mỗi người hai cái, kèm một túi muối nhỏ. Bảo vừa nhận đã bóc một cái; bánh cứng đến mức hắn phải nhúng nước nóng mới cắn được.
Dư An nhìn hắn ngậm miếng bánh. “Để dành được lâu đấy.”
“Ừm.” Bảo nhai thêm một lúc mới nói tiếp. “Nếu không kịp về, ta có thể dùng nó sửa chốt xe.”
Hổ bật cười. Thanh Nghi cầm chiếc bánh của mình gõ nhẹ lên bàn, rồi bẻ một miếng nhỏ cho Ô Kê. Con gà mổ hai lần không vỡ, tức tối quay sang mổ dây buộc túi. Bảo vội kéo túi lại, bẻ vụn phần bánh đã ngâm cho nó.
Trước khi đi, Thanh Nghi đến gặp người quản kho. Nàng báo hướng nhóm sẽ tới và nhắc địa chỉ nhận tin đã để lại. Bà quản kho xem bản ghi, xác nhận hòm vẫn niêm và thời hạn giữ vẫn như trên giấy. Nếu có hồi âm từ người gửi hoặc bên tập kết, trạm sẽ chuyển theo địa chỉ đó; bà không biết thư có tới trước khi nhóm rời trạm nghỉ kế tiếp hay không.
Bảo hỏi: “Cháu có thể nhờ trạm sao lại dòng giao hòm không?”
Bà bảo phải kiểm tra phần nào được cung cấp. Sau khi hỏi người giữ sổ, bà đồng ý cho chép một bản giới hạn ở số hòm, ngày nhận, điểm giao và số giấy chuyến hàng. Người giữ sổ viết, đối lại từng chữ, ký tên xác nhận đó là bản chép từ mục nhận của trạm. Ông giải thích bản này không thay giấy giao gốc của bên tập kết.
Bảo nhận tờ giấy bằng hai tay. Hắn muốn có một thứ đủ để mang đi, nhưng cũng hiểu nó chưa chứng minh chiếc lệnh thuộc về Thanh Nghi. Nàng gấp bản chép cùng những giấy khác, nhờ hắn giữ một mảnh ghi số riêng trong sổ. Nếu một người làm ướt đồ, người kia vẫn còn số để hỏi.
Ra khỏi trạm, đường men theo sườn dốc. Lối hẹp, đá lẫn đất; Hổ đi trước dắt Xám, Dư An theo sau để ý bó thuốc và cái nồi buộc trên lưng nó. Thanh Nghi đi cạnh Bảo một đoạn, rồi dừng lại chỉnh quai túi.
“Ngươi còn nhớ người mặc áo xám hôm ấy không?” nàng hỏi.
“Nhớ áo và cái móc. Mặt thì không.” Bảo cầm cuốn sổ đã buộc dây. “Ta cứ nghĩ nếu gặp lại, ta sẽ nhận ra. Nhưng người mặc áo xám ngoài đường nhiều quá.”
“Ta cũng không thấy rõ mặt.” Nàng kéo quai túi lên vai. “Chúng ta ghi điều mình chắc. Phần không chắc thì để trống.”
Bảo gật đầu. Hắn không muốn một người xa lạ bị giữ lại chỉ vì có chiếc áo giống thế. Hắn càng không muốn Thanh Nghi mất chiếc lệnh thêm lần nữa vì mình nóng ruột mà nói quá những gì đã thấy.
Đến chỗ ngoặt, họ gặp một người đàn ông gánh củi đi lên. Hổ hỏi đường tới trạm nghỉ. Ông chỉ xuống khe núi, nói trời chưa mưa nhưng nước dưới khe đục, có lẽ phía trên vừa có đất trôi. Đường chính hiện vẫn qua được; còn cây cầu xa hơn thì ông không đi đến, không biết.
Họ cảm ơn rồi tiếp tục. Bảo không vội ghi cây cầu đã hỏng. Hắn ghi nước khe đục và tên người nói là một người gánh củi gặp trên dốc; khi tới gần hơn còn phải hỏi lại.
Giữa trưa, cả nhóm dừng bên tảng đá tránh nắng. Hổ tháo tải cho Xám nghỉ. Bảo đổ nước vào bát, lấy viên đá chèn mép như tối qua. Ô Kê vừa cúi uống, hắn mở sổ, đặt tờ ghi số giấy giao bên cạnh để kiểm lần nữa.
Gió lùa qua khe, thổi bay mép giấy. Bảo chụp lại kịp. Trên trang sổ, dưới tên điểm tập kết, hắn viết thêm: “Hỏi bản gốc của giấy giao.”
Hắn nhìn dòng chữ một lúc, rồi gấp mảnh giấy cất vào trong áo. Ở trạm có một chiếc hòm đang được giữ lại. Ở đầu kia con đường có thể có một tờ giấy cũ. Muốn biết chiếc bao đã đi qua đâu, họ còn phải chờ người nhận thư tìm đến đúng chỗ.