Chương 314: Bậc Đá Phía Nam
Buổi sáng, bà Vân đến trạm với một đôi dép khác nhau.
Chiếc bên trái buộc dây gai mới, chiếc bên phải vẫn là đôi hôm trước. Tạ Tiểu Bảo nhìn đôi dép rồi nhìn cái sọt bà mang. Trong sọt có một cuộn dây, vài cọc tre và hai miếng ván ngắn.
“Dép mới của bà đâu?” hắn hỏi.
“Đôi mới bị chó nhà ta tha mất một chiếc. Ta tìm được chiếc còn lại ở sân.” Bà nhấc chân trái. “Chiếc này mượn của con gái, vừa tạm.”
Bảo không hỏi con chó làm sao tha được một chiếc dép. Hắn nhìn Ô Kê đang bới dưới hiên, quyết định buộc lồng cẩn thận trước khi đi. Bà chủ trạm nhận trông gà và chiếc nồi như hôm trước; Xám được để ở sân, có đủ cỏ đến chiều.
Hổ hỏi sao hôm nay chưa đưa la theo. Bà Vân nói muốn xem bậc đá cùng ông Thạch và người quen làm đường ở phía nam trước. Hôm qua Xám đã thử đoạn gần tảng đá không tải; không cần bắt nó đi lại cả quãng khi chưa biết lối sau ra sao. Hổ đồng ý, nhờ Bảo giữ phần dây đo thân la trong sổ.
Cả nhóm qua lối người đi sát vách. Ông Lộc đã kiểm phần cây được chống, báo nó vẫn ở vị trí cũ. Họ không đi trên đoạn đá mới vì có người đang chỉnh mép sỏi Xám làm xê dịch hôm qua. Tới khoảnh bằng phía nam, ông Thạch chờ cùng một người thợ tên Quân. Ông Quân từng sửa những bậc đất ở đường gánh hàng, đem theo cuốc và một thanh gỗ thẳng.
Bảo đưa ông xem hình vẽ. Ông không nhận ra ngay, xoay sổ một vòng rồi hỏi:
“Đầu nào là phía trạm?”
Hắn chỉ một mũi tên nhỏ. Ông Quân bảo nếu ghi cả hướng nước chảy thì dễ phân biệt hơn. Bảo thêm mũi tên thứ hai, tô khác nét đầu. Lúc hắn định vẽ thêm con la, Thanh Nghi giữ tay hắn lại.
“Để chỗ cho những gì chúng ta đo.”
“Con la cũng đã được đo.”
“Nhưng trong sổ, lần trước cái mỏ gà lớn hơn đầu la.”
Ông Thạch bật cười. Bảo gấp trang hình con vật lại, để lộ trang đường. Hắn vẫn giữ nét vẽ ấy, phòng khi cần nhắc mọi người lồng gà cũng chiếm một khoảng trên tải.
Tại bậc đá, người thợ đi vòng lên phần đất cao. Gốc cây nằm ngang tạo một cạnh nổi, bậc đá ở phía dưới, khoảng giữa có đất nén và mấy viên nhỏ. Lối người gánh hàng đi đủ cho một người đặt chân, còn hai sọt phải tháo khi qua. Phía trong bụi có một vệt thoai thoải, nhưng rễ cây nổi khiến mặt đất không đều.
Bà Vân và ông Quân đo từ đầu bậc đến chỗ nền bằng phía dưới. Họ đặt thanh gỗ theo từng đoạn, dùng dây có vật nặng ước lượng độ chênh. Bảo đọc vạch trên gậy, Thanh Nghi ghi; khi hắn đọc nhầm một vạch do bóng lá che, Hổ xoay gậy về phía sáng rồi bảo hắn đọc lại. Chênh lệch không biến mất chỉ vì hắn muốn một con số dễ chia.
Ông Quân xem mặt đất ở vệt trong bụi. Ông bảo có thể dọn cành khô, đặt thêm đá ở một khoảng để tạo bậc thấp hơn, nhưng không nên chặt rễ lớn đang giữ đất. Nếu lấp đất phủ kín rễ, nước từ sườn có thể lại xói đi. Bà Vân hỏi lối ấy có ảnh hưởng hàng rào hay chỗ đi của người xóm không. Ông Thạch nói bụi này nằm cạnh đường chung, nhưng cây bên trên thuộc mảnh đất nhà khác; ông sẽ hỏi người nhà ấy trước khi đụng đến cành còn sống.
Trong lúc ông Thạch đi hỏi, Hổ và ông Quân dọn những viên đá tròn nằm sẵn trên lối. Họ đặt chúng ở bãi bằng cách đó vài bước, không lăn xuống rãnh. Bảo nhận nhặt cành khô nhỏ; Dư An đưa hắn một cái sọt nhẹ, dặn dừng nếu đầu gối căng. Hắn cúi một lát rồi đứng dậy, đổi sang giữ sọt cho Thanh Nghi.
Một người gánh hàng từ phía nam lên, thấy cả nhóm đứng quanh bậc liền hỏi có bị chặn đường không. Bà Vân chỉ chỗ nền rộng để ông chờ trong khi Hổ dời viên đá cuối khỏi lối. Ông tháo sọt, đưa qua hai lượt như thường làm. Bảo hỏi ông có thấy la nào đi tuyến này không. Ông nói từng gặp một con ngựa nhỏ ở đoạn đường đất phía sau, nhưng nó không đi qua bậc khi ông nhìn thấy.
“Vậy nó có thể đi từ lối khác tới,” Thanh Nghi nói.
“Cũng có thể. Ta chỉ gặp nó ở đó.” Người gánh hàng đeo lại sọt, cảm ơn rồi lên dốc.
Bảo ghi tin. Hắn muốn hỏi con ngựa màu gì, nhưng biết màu không giúp tìm lối. Hắn hỏi đường đất phía nam có dẫn tới thung lũng không. Ông khách nói đường ấy dẫn đến một ngã chia: một lối tới chợ, một lối đi về phía núi; ông chỉ đi chợ nên không thể nói lối còn lại tới làng nào. Hắn vẽ ngã chia bằng nét đứt và ghi lời ông.
Ông Thạch trở lại cùng một người phụ nữ lớn tuổi. Bà là người trông mảnh đất cạnh bụi cây. Bà xem cành mà nhóm muốn dọn, nói cây đã đổ một nhánh khô từ trước; nhánh khô ấy có thể mang đi, còn những rễ và thân sống xin để nguyên. Bà cũng chỉ một lối nhỏ người nhà dùng để xuống mương, nhắc đừng đặt đá chắn lối ấy.
Bà Vân đề nghị làm một dải đi vòng phía trong, tránh rễ lớn và không lấp đường xuống mương. Bà hỏi ông Quân có đủ đá tại chỗ không. Ông nói chỉ nên lấy những viên rời nằm trên nền, không bẩy đá đang giữ bậc; nếu thiếu phải mang thêm từ bãi đã mua. Hổ nhận mang số đá còn lại của nhóm qua đoạn đã thử, từng sọt nhẹ.
Họ không đưa Xám hôm nay, nên Hổ và ông Tấn thay nhau khiêng sọt. Đến tảng đá chắn, hai người tháo sọt, chuyển từng cái qua lối trong. Đoạn cây đổ đã được giữ cao hơn ở phía đi bộ, nhưng ông Lộc chưa tháo toàn bộ chống; họ tránh để quai sọt móc vào dây.
Bảo đi cạnh, đếm từng sọt tới khoảnh bằng. Hắn định tự cầm một sọt đầy, Dư An bảo hắn có thể nhận sọt rỗng đưa lại thay vì mang nặng. Hắn cầm hai cái, thấy chúng nhẹ hơn tưởng tượng nhưng vẫn dễ vướng vào nhau. Mai tới sau, chỉ hắn xếp chồng để quai không móc vào nan. Cô vừa giao hàng xong, được trả công theo buổi để phụ chuyển đá.
Giữa trưa, họ ngồi dưới gốc cây ăn bánh. Bảo nhìn những sọt đá, hỏi vì sao phải mang từng cái thay vì chất lên Xám.
“Đoạn đầu nó đã thử không tải,” Hổ nói. “Nếu chất đá rồi gặp chỗ phải quay, ta vừa phải tháo tải vừa giữ nó.”
“Nhưng tháo hết thì bao giờ mới đi?”
“Chúng ta đang đưa vật liệu qua. Còn hành lý có thể chia sau khi xem đoạn tiếp.” Anh bẻ bánh, đưa một nửa cho Bảo. “Không phải thứ nào cũng cần vượt cùng một lúc.”
Bảo cầm miếng bánh, nhớ năm ấy đoàn Tống Ký phải bỏ xe và chia đồ cho người khỏe mang. Khi đó hắn cũng muốn giữ cả những thứ còn trên xe, nhưng đường mỏ không đủ rộng. Hôm nay cái nồi của hắn vẫn ở trạm, không có ai đuổi sau lưng; có thể sắp xếp từng chuyến nếu cần.
Sau bữa trưa, bà Vân cùng ông Quân thử đặt những viên dẹt ở vệt trong bụi. Họ không chất cao sát gốc; mỗi viên dựa trên phần nền đã được gạt lá và kiểm. Đá nhỏ dùng chèn, một khe được giữ để nước từ trên sườn không dồn vào chân bậc. Người trông đất đứng xem, chỉ nơi nhà bà cần đi xuống mương. Tổ để lối ấy thông.
Hổ mang sọt nhẹ thử đi lên, rồi xuống. Một viên lắc khi anh đặt chân ở mép. Ông Quân đổi hướng viên đá, chèn lại; Mai bước thử từ phía nam vì hướng đi của nhóm sẽ ngược lại. Cô đi được, nhưng chỉ ra một cành thấp có thể mắc vào tải. Người trông đất cho phép cắt phần cành khô đã gãy; phần còn sống họ buộc gọn lên cao bằng dây, không cắt.
Bảo đo lại khoảng từ nền tới cành. Nó cao hơn chiếc lồng Ô Kê khi đặt trên lưng Xám theo số đo cũ, nhưng Hổ nhắc tải thực tế có thể nghiêng. Anh đề nghị thử trước với cây gậy đặt ngang vai người dắt, theo chiều cao và chiều rộng dự kiến, rồi mới đưa la qua.
Hắn cùng Mai cầm hai đầu gậy, đi chậm qua dải đá. Đầu gậy chạm vào cành đã buộc. Họ dừng, đo lại: dây giữ cành vừa đủ cho người không tải, nhưng đầu gậy ở phía ngoài vẫn vướng. Người trông đất giúp buộc cành lên thêm một chút, chừa khoảng để cành không bị kéo gãy. Lần thử sau gậy qua được, dù gần chạm lá.
“Cái lồng thật còn phải giữ khỏi lắc,” Hổ nói.
Bảo vẽ cành vào sổ, viết “gậy qua, chưa thử lồng”. Hắn không lấy kết quả ấy làm lời hứa. Nhưng khi ngẩng lên nhìn dải đá mới, hắn thấy đây là lần đầu cả nhóm có thể đặt gậy theo hình tải và đi hết đoạn bậc, không phải dừng trước rễ cây.
Chiều xuống, bà Vân cho ngừng công việc. Người trông đất kiểm lại lối xuống mương, hài lòng vì sọt vẫn đưa qua được. Nhóm trả công cho ông Quân và Mai theo phần đã bàn; ông Thạch giúp chuyển dụng cụ về đầu lối rồi đi tìm người thay ca báo đường.
Bảo nhận việc chép tờ báo ở phía nam. Hắn viết: “Đã đặt đá thử tại bậc; người mang sọt nhẹ đã qua. La và tải chưa thử.” Ông Thạch đọc lại, thêm ngày vào đầu tờ giấy. Hai người buộc nó lên cành tre, tránh chỗ mưa dễ hắt.
Về tới trạm, Xám chạy vài bước về phía cổng rồi dừng, vì dây buộc vừa tới giới hạn. Bảo đem nước cho nó, kể chuyện cái gậy đã qua được dưới cành. Con la cúi uống, không nhìn hắn. Ô Kê trong lồng kêu đòi ra, có lẽ nó cũng muốn nghe chuyện cái lồng của mình.
Hắn mở cửa lồng. Con gà nhảy xuống, chạy tới đống cỏ, bới tung một nắm. Hổ đưa chổi cho Bảo. Hắn quét lại, vừa quét vừa nói:
“Đường cho ngươi trên giấy đã rộng hơn mỏ của ngươi.”
Ô Kê mổ vào cán chổi. Hắn nhấc cán lên, con gà ngẩng theo. Bà chủ trạm đặt bát cơm ngoài hiên gọi mọi người ăn, cả hai bỏ cuộc tranh cái chổi cùng lúc.