Chương 471: Chuyến Đi Trong Bảng Tính
Sáng hôm sau, bà Sâm đặt ba chiếc bát lên bàn.
Bát đầu có chín hạt đậu, bát thứ hai có bốn, bát cuối để rỗng. Bà nói mỗi bát tượng trưng cho một nơi giữ phần; những hạt đậu không phải số thật. Người ở kho đường núi được mời giữ bát đầu, bà Liên giữ bát thứ hai, còn Bảo ngồi trước bát rỗng.
“Bát này là cửa chín à?” hắn hỏi.
“Không. Nó là một nơi chưa liên lạc được. Ta muốn xem khi nơi đó cần phần, chúng ta quyết thế nào.”
Bảo xoay chiếc bát, kiểm đáy. Nó không nứt. Hắn đặt xuống, nhận thấy bà Sâm đang nhìn.
“Con chỉ xem nó có đựng được không.”
“Trong bài này, ngươi cứ giả sử nó đựng được.”
“Vậy ai báo nó đang cần?”
Bà Sâm đưa một mảnh giấy: người ở bát rỗng báo cần ba phần, sau đó đường liên lạc bị chặn. Người giữ bát đầu có chín phần, trong đó sáu đã hẹn giao; bát thứ hai có bốn, chưa biết phần nào đã được dành cho người khác.
“Ta lấy ba từ bát đầu,” bà nói, chuyển ba hạt đậu sang bát rỗng. “Người giữ tổng ghi lại và báo sau.”
Người kho đường núi lập tức lấy một hạt khỏi nhóm sáu. “Nếu ba hạt này là phần chưa hẹn, được. Nhưng ta còn phải trả công người chở. Trong sáu phần đã hẹn có một phần dành cho công ấy.”
Bà Sâm kéo một tờ khác, viết *công chở: một*. Bà hỏi có thể lấy từ ba phần vừa chuyển không. Ông kho nói nếu nơi nhận cần đủ ba thì chỉ còn hai tới nơi. Nếu lấy từ sáu đã hẹn, một người khác sẽ thiếu.
Bảo nhìn chiếc bát rỗng nay có ba hạt. “Trên giấy họ cần ba, nhưng có nói họ cần trước giờ nào không?”
“Chưa có.”
“Có nói còn gạo hay dầu không?”
“Không.”
Tề đề nghị giả sử nơi ấy đang nguy cấp. Bà Liên hỏi nguy cấp vì người trực không có phần hay vì hàng chưa tới. Tề nói bài thử chưa phân biệt. Bà liền lấy một mảnh giấy khác, viết hai dòng và đẩy tới giữa bàn.
“Nếu chưa biết, người mang tin phải hỏi lại khi có đường. Còn lúc này, ai gần đó nhất?”
Người của tông chỉ người kho đường núi: ông có xe ở trạm gần nơi nhận. Ông kho nói đường núi đang mưa; xe có thể tới một đoạn, từ đó cần người địa phương dẫn. Ông không biết tên người dẫn vì bài thử chưa ghi.
Bảo lấy tờ giấy của Mộc, kẻ một ô *người gần nhất*. Hắn định viết tên ông kho, nhưng ông ngăn lại.
“Ta có xe gần đó, không có nghĩa ta ở đó. Người lái xe mới là người có thể xem đường.”
Hắn viết *người lái xe của kho*, để tên trống và ghi sẽ hỏi. Thanh Nghi thêm ô *người nhận tin tại nơi cần*. Bà Sâm nhìn hai ô mới, nói thời gian đang trôi; nếu chờ điền đủ thì người cần có thể không đợi được.
“Vậy bà sẽ chuyển bao nhiêu trước?” Thanh Nghi hỏi.
“Ta chuyển ba phần và ứng công từ kho điện.”
“Kho điện có bao nhiêu?” người kho hỏi.
“Trong bài này có một phần dự phòng.”
“Vậy ai đưa phần ấy tới xe?”
Bà Sâm lấy thêm một hạt đậu từ túi, đặt cạnh bát đầu. Bà ghi người của trạm mang công tới bến xe. Bảo hỏi nếu người của trạm không tới kịp, xe có đi không. Ông kho nói người lái có thể đi nếu được phép nhận công sau, nhưng phải hỏi anh ấy; không thể viết mặc định anh đồng ý.
Tề thở ra, nhìn những mảnh giấy đã phủ kín bàn. “Nếu mỗi việc đều hỏi, chúng ta mất cả buổi.”
Bà Liên đưa ông tờ ghi ca trực. “Ở cửa biển, một người có thể nhận lúc sáng nhưng phải về chăm mẹ chiều. Nếu điện chỉ ghi tên bà ấy, lúc cần có thể không tìm được.”
“Ta hiểu.”
“Ông hiểu bây giờ. Người nhận bảng tháng sau có hiểu không?”
Tề không trả lời ngay. Ông nhờ người ghi chép thêm giờ có thể liên lạc cạnh tên người trực. Ninh nói cũng cần chỗ ghi phương án khi đường bị chặn. Bà Sâm nhìn tờ đề án cũ, rồi gạch một đường ở mép để tạo cột mới.
Bảo hỏi: “Nếu điện chuyển phần của kho trước, người ở kho không đồng ý thì sao?”
“Trong trường hợp khẩn, người giữ tổng vẫn quyết,” bà Sâm đáp. “Ta chưa thấy cách nào khác khi đường tin bị cắt.”
“Vậy sau đó người kho phải được biết mình mất gì.”
“Đúng.”
“Và người đã nhận có biết phần công lấy ở đâu không?”
Bà Sâm nhìn hạt đậu bà vừa thêm. “Ta sẽ ghi.”
Người kho nói trong đời thật, nếu điện đã có phần dự phòng riêng và có người giao công, ông sẽ cho xe đi theo cách ấy. Nhưng nếu không có, ông phải biết lấy từ khoản nào đã hẹn. Ông không đồng ý ghi mình đã cho ba phần trong mọi trường hợp.
Bà Sâm sửa ví dụ: một phần công ứng từ kho điện, ba phần lấy từ số chưa hẹn của kho đường núi; người lái sẽ được hỏi trước khi đi. Nếu đường không qua được, trạm phải báo lại và tìm tuyến khác. Bà để trống tên người quyết khi không liên lạc được người lái.
“Ta không thể điền thay người chưa có mặt,” bà nói.
Bảo nhìn ô trống. Hôm qua bà Sâm đã muốn một người giữ tổng nhận quyền quyết. Hôm nay bà vẫn giữ ý ấy, nhưng trong ví dụ có thêm người lái, người nhận và khoản công. Hắn chưa biết bà có đổi đề án không; ít ra tờ giấy mới không bảo một chiếc xe có thể tự đi.
Giữa buổi, người trạm đem đến thư từ cửa biển. Vĩnh viết mực nước tiếp tục tăng chậm, đèn còn sáng. Người nhận ở xóm bên đã ghi tên một người thay cho chuyến sau; phần gạo dự phòng chưa cần mở. Bà Liên đọc xong, đưa Ninh và Bảo xem phần được chia sẻ. Bà nói sau cuộc họp sẽ gửi lời hỏi xem người thay có đồng ý để trạm lớn giữ cách liên hệ không.
Ninh ghi kết quả đo mới vào bảng của bà. Bà Sâm hỏi có thể coi cửa biển đã qua nguy cấp không. Ninh đáp người trực đã báo không có mức giảm mới, nhưng chưa nói cửa đã ổn định lâu dài. Bà Liên đồng ý với câu ấy. Người ghi chép viết đúng như vậy.
Đến bữa trưa, Bảo tìm Ô Kê ở sân sau. Nó đang đứng cạnh đống vỏ đậu, mổ hạt rơi từ rổ của người nấu. Bà chủ trạm nói đã cho nó ăn ít thóc, không cần trả tiền. Hắn vẫn hỏi mình có thể giúp gì; bà chỉ chiếc thùng nước cần mang vào bếp. Hắn mang xong, bà cho hắn thêm một bát cơm nhỏ.
Thanh Nghi tìm thấy hắn đang ngồi trên bậc cửa. Nàng kể người của tông muốn hỏi thêm về đường hầm dưới Thái Huyền sau cuộc gặp, vì dấu Bảo chép có thể liên quan sổ cũ. Nàng đã nói hắn có quyền từ chối hoặc hẹn lúc khác; người ấy không yêu cầu xem giấy ngay.
“Con muốn hỏi họ có tìm được bản gốc không,” Bảo nói. “Nhưng không phải khi chưa ăn hết.”
“Ta sẽ bảo họ chờ.”
Chiều, cuộc bàn tiếp tục với một tình huống khác: người trực ở một cửa cần nghỉ gấp, người dự phòng ở xa. Bà Sâm đề nghị trạm cử người gần nhất; bà Liên hỏi người ấy có được học việc trước không. Tề nói có thể cử người đã từng trực nơi khác. Ninh nhắc dụng cụ và dấu mỗi nơi có thể khác; người mới cần được chỉ tại chỗ, không thể chỉ mang thẻ rồi nhận ngay.
Họ không tìm ra một người có thể thay mọi cửa. Nhưng người kho nhận kiểm danh sách những người có thể chở người học việc, còn điện sẽ hỏi các cửa muốn đào tạo thêm ai. Thanh Nghi yêu cầu thêm dòng tiền ăn và việc ở nhà của người đi, theo câu hỏi của Tín. Tề đồng ý đưa khoản ấy vào bản dự trù để xin ý kiến, chưa hứa đã có tiền.
Khi người ghi đọc lại, Bảo nghe câu *điện sẽ sắp người thay*. Hắn hỏi đó có nghĩa điện tự chọn hay hỏi người ở cửa. Tề sửa: điện sẽ hỏi từng cửa về nhu cầu và người muốn học, sau đó cùng bàn cách hỗ trợ. Người ghi thêm chữ *chưa có danh sách*.
Cuối ngày, bà Sâm đưa bản đề án có những cột mới cho từng người xem. Bà chưa xóa cột người giữ tổng và quyền chuyển khẩn. Bảo cũng không ký nhận vai trò ấy. Hắn ký vào trang ghi lời mình đã nói, sau khi kiểm người ghi không viết rằng hắn đồng ý mang nồi.
Bà Liên lấy thẻ ca của mình đặt lên mép giấy. “Ta phải về trước lượt đã hẹn. Nếu điện muốn biết người ở cửa biển nghĩ gì, xin gửi bản này cho chúng ta xem.”
Tề nhận lời gửi qua trạm. Ông hỏi Bảo và Thanh Nghi có thể ở thêm sáng mai để gặp người của tông không. Họ nhìn nhau. Bảo hỏi tiền phòng và xe về còn được trả chứ. Tề xác nhận điện sẽ trả thêm một đêm và giữ chuyến xe đã hẹn vào trưa mai. Hắn mới đồng ý.
Tối, Bảo để hai tờ giấy dưới chiếc bát như hôm trước. Lần này có thêm một bản đề án của bà Sâm, bên ngoài ghi ngày và chữ *chưa quyết*. Ô Kê nằm trong giỏ, không đụng tới mép giấy. Hắn đặt đồng tiền Mộc để lại vào túi áo, rồi tắt đèn.