Chương 472: Nét Khắc Bên Trái Cửa
Bảo đem hai tờ giấy của mình tới gian nhỏ sau nhà trạm. Người của tông đã chờ ở đó, trên bàn có một hộp gỗ và ấm nước chưa rót.
Ông tự giới thiệu tên Trịnh, làm việc cùng đội kiểm tuyến dưới Thái Huyền. Bảo nhận ra tên: Hứa Đồng từng nói người này đã thấy những nét than hắn để lại trên đường rút. Hắn nhìn ông thêm một lần, nhưng không dám chắc mình đã gặp ông dưới hầm khi nào.
“Con cảm ơn ông đã đọc dấu than,” hắn nói.
Trịnh cười. “Ta không phải người đầu tiên thấy. Người đi trước chỉ cho ta. Nếu ngươi muốn, ta có thể hỏi lại tên người ấy.”
“Con muốn.”
Thanh Nghi ngồi bên cửa sổ. Nàng đặt bản chép đề án của điện sang một phía, không để lẫn với giấy của Bảo. Trịnh nói cuộc bàn hôm qua giúp ông hiểu thêm chuyện những người trực; hôm nay ông đến vì đội đã đối được một phần dấu ở chân cửa dưới núi. Ông hỏi Bảo có sẵn lòng cho xem bản chép riêng không.
Bảo mở bọc, lấy tờ có hai nét cong sứt và nét xiên. Hắn đặt lên bàn, giữ thêm tờ dáng tượng trong túi. Trịnh không chạm ngay. Ông mở hộp gỗ, lấy ra một bản dập trên giấy mỏng. Trên đó có hai nét cong bị ngắt, một nét xiên và vết nứt của đá chạy qua phần bên dưới.
“Bản này làm khi đội đã dọn được lối tới cửa hẹp,” ông nói. “Không phải hình cả phòng. Chúng ta vẫn chưa vào lại gian có tượng.”
Bảo kéo hai tờ cạnh nhau. Nét xiên trong bản dập dài hơn nét hắn vẽ; khoảng sứt ở giữa hai đường cong giống với điều hắn nhớ. Trịnh chỉ chỗ hắn ghi *bên trái cửa hẹp*, xác nhận đội đã tìm đúng phía. Ông không nói bản của Bảo sai; hắn đã ghi mình nhìn trong ánh đèn thấp.
“Có đọc được nghĩa không?” Thanh Nghi hỏi.
“Đội chỉ đối vị trí và hình. Chúng ta nhờ người đọc chữ xem, họ nói có thể là dấu chỉ đường dẫn phần, nhưng bản dập này không đủ để đọc thành câu.”
Bảo thấy hụt. Hắn đã nghĩ người của tông đến sẽ mang theo lời giải. Nhưng Trịnh rút thêm một mảnh giấy từ hộp: bản vẽ cùng dấu ở một bệ đá khác trong đường hầm, không có nét xiên và có thêm một chấm ở dưới.
“Bệ này ở đâu?” hắn hỏi.
“Ở đoạn dẫn ra cửa phụ. Lúc đoàn ngươi rút, lối ấy bị chắn. Đội đã mở được tới bệ, chưa đi hết đường sau nó.”
Thanh Nghi đặt bản ấy cạnh hình nét sóng tìm được ở Lạc Kê. Hai đường cong có hướng gần nhau, nhưng vết sứt khác vị trí. Trịnh hỏi nguồn bản chép; nàng nói đó là trang sổ cũ ở làng, người viết ghi một lượt chuyển phần, nơi nhận bị mất chữ. Nàng chưa đưa trang gốc, chỉ cho ông xem bản vẽ dấu.
“Đội có thể đối với dấu này không?” nàng hỏi.
“Có thể. Ta xin mang một bản chép về, ghi nguồn là Lạc Kê nếu người giữ sổ đồng ý.”
“Ta chưa thể đồng ý thay họ. Ta sẽ hỏi bà Mạnh và người đang giữ trang.”
Ông gật, không giục. Bảo hỏi tông đã tìm được người cho Mộc xem bản ghi có tên làng chưa. Trịnh nói ông không biết việc ấy; ông có thể gửi câu hỏi tới người giữ đồ Mộc ở tông. Hắn đưa địa chỉ mà người quen của thầy đã cho, nhờ ông ghi đúng tên nơi nhận.
Trịnh nhìn địa chỉ. “Ta biết người này. Họ vẫn giữ đồ trong phòng của Mộc, đang hỏi xem ông có người thân không.”
“Có ai trả lời chưa?”
“Ta chưa nhận tin.”
Bảo cầm bút, viết một dòng nhờ báo nếu tìm được người thân, và hỏi liệu trong các cuốn sổ ông để lại có bản nào nhắc tới người đã cho ông xem giấy Lạc Kê không. Hắn không xin mang hết đồ về; hắn biết người ở tông đang giữ và chưa có người nhận chính thức. Trịnh nhận thư, hứa chuyển, không hứa tự mở sổ.
Ngoài sân, Ô Kê đang đuổi một chiếc lá khô. Nó chạy vòng quanh cột, trượt trên nền ẩm rồi giả vờ đứng ngắm trời. Bảo nhìn qua cửa, định gọi, nhưng con gà đã tự tìm được một hạt thóc dưới ghế.
Trịnh hỏi hắn còn nhớ dáng tượng dưới hầm không. Bảo lấy tờ còn lại: người có vai rộng, bụng tròn, hai tay khoanh, phần mặt bỏ trống. Hắn kể tượng khiến hắn nghĩ tới Thôi thúc ở làng, nhưng lúc ấy ánh sáng yếu và hắn không nhìn rõ mặt.
“Ta nhớ đội đã ghi như vậy,” Trịnh nói. “Ở gian ngoài, chúng ta tìm thấy một bệ trống có kích thước gần với chân tượng. Chưa biết tượng từng đứng ở đó hay không.”
“Bệ có dấu gì không?”
“Có một vòng khắc bị mòn. Ta mang bản dập.”
Ông mở tờ cuối. Vòng khắc rộng hơn dấu chân cửa, một đoạn bị sứt. Bảo thấy trên mép tờ có dòng chú thích *bệ trống, gian ngoài*. Thanh Nghi hỏi khoảng cách từ bệ tới cửa hẹp. Trịnh chỉ một con số, nói đội đo bằng thước dây khi nền đã dọn; trước đó lối bị đá chắn nên họ không chắc vị trí đồ vật có thay đổi không.
Bảo đặt hai bản dập và bản vẽ của mình thành một hàng. Hắn muốn hỏi có phải người ở làng đã từng xuống núi, nhưng không ai trong phòng có thể trả lời từ ba tờ ấy. Hắn hỏi việc khác: “Nếu đội vào lại gian có tượng, họ có báo cho những người từng đi không?”
“Đội sẽ báo qua người phụ trách chuyến cũ. Ta có thể nhờ Hứa Đồng chuyển tin cho ngươi.”
“Con muốn biết lúc nào. Con không nhất định phải đi.”
Trịnh viết tên Hứa Đồng và địa chỉ trạm gần Lạc Kê. Ông nói nếu đường chưa an toàn, đội sẽ không đưa người ngoài vào. Bảo đồng ý; hắn vẫn nhớ lần rút, đá rơi và chiếc cáng phải đổi tay ở cửa hẹp.
Một người từ điện đến gõ cửa, báo xe về Lạc Kê sẽ khởi hành sau bữa trưa. Thanh Nghi hỏi tiền phòng và chuyến xe đã được ghi trong giấy hôm qua chưa. Người ấy đưa bản xác nhận của Tề. Nàng đọc rồi đưa Bảo xem. Hắn nhìn dòng tiền về, gật đầu.
Trịnh hỏi họ có muốn mang bản chép dấu ở bệ trống không. Ông cho phép chép lại nếu ghi rõ đội chưa xác nhận tượng từng ở đó. Thanh Nghi chép hình và chú thích; Bảo kiểm vị trí vết sứt. Hắn chỉ một nét nàng vẽ dài hơn bản dập. Nàng sửa, rồi ghi ngoài lề: *đã đối tại trạm*.
“Con có thể gửi bản này cho người làng không?” hắn hỏi.
“Được. Nếu họ muốn gửi tiếp, nhờ ghi nguồn đội kiểm tuyến.”
Hai người ăn trưa cùng Trịnh. Chủ trạm mang cơm, đậu và một đĩa rau. Bảo ăn một bát đầy, nhìn nồi cơm còn ít. Trịnh bảo phần của ông đã lấy, hắn có thể xới thêm. Hắn xới nửa bát rồi dừng, hỏi người ghi chép ở điện đã ăn chưa. Chủ trạm nói họ ăn ở gian khác, phần này dành cho bàn này. Hắn mới lấy thêm.
Trịnh hỏi Ô Kê có ăn cơm được không. Bảo đáp được, nhưng nếu cho một lần nó sẽ nhớ. Ông bẻ một hạt cơm đặt xuống đất. Con gà mổ xong, nhảy lên ghế cạnh ông. Bảo nhìn nó, rồi nhìn ông.
“Con đã báo trước.”
Trịnh đặt ghế xuống xa bàn hơn. “Ta sẽ tự giữ phần của mình.”
Khi tiễn họ ra xe, ông đưa Bảo một mảnh giấy ghi tên người đầu tiên đã tìm thấy dấu than. Ông đã hỏi người cùng đội vào sáng sớm; người ấy nhớ rõ. Bảo đọc tên, hỏi có thể gửi lời cảm ơn qua Hứa Đồng không. Trịnh nói được. Hắn viết một câu ngắn, không nhờ ông thay mình nói thêm.
Xe qua trạm biển, nơi bà Liên đã về trước. Bà gửi nhờ chủ trạm một gói bánh và bản nhắn: người trực đồng ý cho điện nhận số đo mới, còn bản đề án sẽ được đọc cùng mọi người khi tới. Bà chưa tìm được ai nhận ra nét sóng trong bản của Lạc Kê. Bảo gấp lời nhắn, không coi đó là câu trả lời cuối cùng.
Đến làng, hắn đặt hai bản chép mới lên bàn bà Mạnh: một bản đề án *chưa quyết*, một bản dập bệ đá ghi nguồn đội kiểm tuyến. Bà gọi Hổ và người chị nhà bác giữ dây tới xem sau khi họ đổi ca. Thanh Nghi đọc các điều bà Sâm đã thêm và những quyền bà chưa bỏ. Bảo nói rõ mình không nhận giữ tổng, nhưng muốn tiếp tục bàn cách hỗ trợ khi một nơi cần gấp.
Hổ xem phần người thay ca, hỏi điện có trả công cho người ở nhà làm thay không. Tín nghe thấy, chỉ vào tờ câu hỏi của mình. “Họ nói sao?”
“Chưa có tiền được duyệt,” Bảo đáp. “Họ đưa khoản ấy vào dự trù để hỏi tiếp.”
Tín hơi thất vọng, nhưng cậu nhận bản ghi đã được người của điện đọc và xác nhận. Cậu bảo sẽ giữ để lần sau hỏi lại, không cần Bảo tự trả lời thay điện.
Bà Mạnh xem bản dập bệ đá rất lâu. Bà không nhận ra vòng khắc, nhưng muốn đối với trang sổ vừa được tách. Người sửa giấy đã đặt trang ấy trong hộp khô; họ sẽ xem lúc trời sáng để không đưa đèn quá gần.
Tối, Bảo mang gói bánh bà Liên gửi sang bếp. Hắn chia cho Tín, Hổ và Thanh Nghi. Ô Kê được một mẩu; nó ăn xong nhảy lên ghế, nhìn tờ giấy dưới chiếc bát. Hắn đặt tay chặn mép giấy.
“Lần này không có dấu nào cho ngươi ăn.”
Con gà cúi mổ hạt bánh rơi trên bàn. Bảo để nó ăn, rồi gấp bản dập lại theo nếp Trịnh đã chỉ. Tờ giấy có nét vòng sứt được cất cùng hai tờ hắn từng chép ở chỗ Hứa Đồng.