Chương 340: Con Gà Trở Về Giếng
Tạ Tiểu Bảo tỉnh dậy trước khi trời sáng.
Hắn nằm yên nghe tiếng gió qua hàng rào, chờ xem có tiếng búa nữa không. Lò rèn ở cuối làng im lặng. Ngoài hiên, Ô Kê gõ mỏ vào nan lồng, ba tiếng liền, rồi dừng.
“Ta dậy rồi.”
Bảo trở mình, kéo khăn khỏi vai. Con gà vẫn nhìn về phía con đường. Từ khi về Lạc Kê, nó thường đứng như vậy; hôm qua nó còn mổ nút buộc cửa lồng. Hắn mở túi thóc, đổ một ít vào máng. Ô Kê ăn hai hạt, lại quay đầu nhìn ra ngoài.
“Không đói à?”
Nó không đáp. Bảo đặt máng nước vào chỗ chắc, kiểm cửa lồng rồi vào nhà. Dư An đang ngồi cạnh bàn, nghe hắn bước vào liền nhường cho hắn chiếc ghế gần bà Mạnh.
“Đêm qua bà thế nào ạ?”
“Ta không thấy thay đổi lớn. Thanh Nghi thay ta một lúc, nàng cũng nói vậy.”
Chiếc bánh còn trong hai tay bà. Những nếp gấp đã nhiều hơn hôm Bảo tới; hắn không phải nhìn hình vẽ mới nhận ra. Nhưng bà chưa đặt bánh xuống, chưa gọi hắn đi rửa tay. Hắn kéo ghế, ngồi ở nơi bà có thể nhìn thấy nếu bà ngẩng lên.
“Bà, hôm nay con đi xem mấy ngõ còn lại. Con mang nước và vải theo. Con sẽ về kể bà nghe.”
Hắn không nói mình sẽ trở về trước bữa nào. Có lần cả nhóm đi lâu hơn dự tính vì phải che mưa cho bà cụ ở vườn, có lần hắn chạy tới lò rèn khi nghe tiếng búa. Hắn chỉ hứa sẽ về, như đã làm mỗi ngày.
Khi trời sáng, Hổ kiểm dây buộc sọt. Tấm vải mới mua từ ông Lộc đã được chia thành các phần: một phần dùng che mái nhà lão Kỷ, một phần còn lại mang đi xem những ngõ chưa tới. Thanh Nghi đặt giấy ghi các nơi đã ghé vào túi chống ẩm, thêm bút và bình nước.
“Ta không mang hết đồ lên Xám,” Hổ nói. “Chỉ mang nước, vải và lồng Ô Kê. Đi tới đâu cần thì lấy tới đó.”
Bảo nhìn con gà. “Nó có thể đi cùng à?”
“Chúng ta đi khá lâu. Mang nó theo thì ngươi khỏi phải chạy về kiểm máng giữa đường.” Hổ nhìn Dư An. “Ông vẫn ở đây với bà Mạnh chứ?”
Dư An gật đầu. Ông muốn xem tiếp bàn tay bà dưới ánh sáng ban ngày. Nếu cần thêm người, ông sẽ gọi; nhà bà Mạnh ở gần đường nên cả nhóm có thể nghe khi còn ở ngõ gần.
Bảo và Hổ nhấc lồng lên lưng Xám. Hắn buộc dây như những ngày qua đường, kiểm đáy lồng không chạm quai sọt. Ô Kê đứng im cho tới lúc hắn buộc xong, sau đó mổ vào nút cửa. Bảo xoay nút ra ngoài, tránh để nó dễ kéo.
“Đi cùng thì phải ngồi yên.”
Ô Kê nhìn hắn, không hứa gì.
Họ ghé vườn rau trước. Tấm che ông Thuận giúp buộc còn chắc, rãnh dưới chân bà cụ đã khô. Bảo chào bà và kể rằng hôm qua mình nghe tiếng búa. Một chiếc lá ở mép rổ đã đổi hướng so với lúc đầu; hắn không biết gió hay bàn tay bà làm nó nghiêng, nên chỉ chỉ cho Thanh Nghi xem, không ghi thành một chuyển động của bà.
Ở ngõ sau nhà Bảo, họ kiểm tấm vải dưới giàn bầu. Bé gái vẫn đưa tay về phía chiếc khăn. Hổ nhìn vị trí chiếc giỏ gần chân chum; nước không còn chảy tới đó. Anh cùng Thanh Nghi kéo căng lại một đầu vải bị chùng. Bảo đứng cạnh, kể với hai người dưới giàn rằng cả nhóm sẽ tiếp tục đi xem các nhà khác.
Rời ngõ ấy, họ tới hai căn nhà chưa xem kỹ. Một nhà cửa mở, người đàn ông ngồi cạnh bàn, trước mặt có chén trà. Nhà bên cạnh cửa khép, gọi không có tiếng đáp. Họ đi quanh phía ngoài, thấy mái còn lành và không có dấu nước chảy vào cửa. Hổ dùng mảnh vải vừa mang theo che thêm chỗ đầu hiên bị nắng chiếu; họ không mở cửa khi chưa biết bên trong có ai.
Bảo đánh dấu trên tờ giấy những nơi đã xem. Hắn nhớ hôm mới về, hắn chỉ nghĩ tới bà Mạnh, lão Kỷ và Thôi thúc. Bây giờ trên giấy có thêm nhiều chấm ở những nhà hắn không biết tên người bên trong. Hắn muốn hỏi tên từng người, nhưng các cánh cửa không trả lời.
“Ta đã đi hết làng chưa?” hắn hỏi.
“Chưa,” Thanh Nghi nói. “Đường phía sau lò rèn còn mấy lối nhỏ. Hôm nay chúng ta đi được một phần, rồi trở lại với Dư An.”
Bảo nhìn Xám. Lồng Ô Kê nằm chắc trên lưng nó, nhưng con gà không ngủ. Nó đi qua đi lại, thỉnh thoảng dừng để nhìn phía giữa làng. Hắn đặt tay lên nan lồng.
“Ngươi đã đi qua đường này rồi. Còn nhớ không?”
Ô Kê mổ ngón tay hắn, không mạnh. Bảo rụt tay, rồi nhìn về phía chiếc giếng. Hắn từng lấy nước ở đó, từng đứng cạnh người lớn chờ gàu được kéo lên. Ngày đi khỏi làng, hắn mang theo cái nồi, con gà và ba đồng. Hắn không nhớ lần cuối mình nhìn xuống giếng là khi nào.
Họ tới sân giữa làng gần trưa. Người giữ dây gàu vẫn đứng bên miệng giếng, người phụ nữ ôm bó rau ở gần đó. Vạt áo đã được Bảo và Thanh Nghi gỡ khỏi cọc. Pho tượng dưới tán cây nhìn về khoảng sân, hai cánh tay khoanh trước ngực.
Hổ dắt Xám dừng ở mép bóng cây. Thanh Nghi lấy bình, rót nước cho cả nhóm. Bảo ngồi cạnh bệ tượng, mở tờ giấy ghi đoạn cong đã thấy hôm qua. Nắng sáng làm một phần nét khắc hiện rõ hơn, nhưng chỗ đá nứt và bùn còn che vẫn chưa cho hắn một hình đầy đủ.
“Ngày mai nhờ Dư An xem cùng nhé?” hắn hỏi.
“Được. Hôm nay ông ở cạnh bà Mạnh.” Thanh Nghi nhìn tờ giấy. “Nếu thư tới Mộc, có thể ông ấy biết ai quen đọc dấu trên đá. Nhưng chúng ta chưa có tin lá thư qua trạm.”
Bảo gật đầu. Mảnh giấy người chở hàng Phúc viết vẫn trong sổ, ghi chặng đầu và số tiền đã nhận. Hắn đã kiểm nó trước khi ra khỏi nhà. Có những việc hắn chỉ có thể chờ người khác đi hết quãng đường của họ.
Hắn uống nước, rồi nhìn qua giếng về phía lò rèn. Sau tiếng búa hôm trước, chưa ai nghe thêm tiếng thứ hai. Hàn thúc vẫn ở đó, cũng như bà Mạnh, lão Kỷ và những người trong các ngõ. Họ không biến mất, nhưng một việc nhỏ của họ kéo dài qua nhiều bữa cơm của nhóm hắn.
“Con không muốn đợi tới lúc mọi người làm xong rồi mới tìm cách giúp,” Bảo nói.
Hổ ngồi xuống cạnh hắn. “Ngươi muốn tìm ở đâu trước?”
Bảo nhìn pho tượng, rồi nhìn chiếc giếng. “Con chưa biết. Dấu ở bệ có thể liên quan tới bản chép của Mộc, cũng có thể không. Nhưng cả hai đều ở giữa làng. Con muốn xem quanh đây kỹ hơn.”
Thanh Nghi trải tờ giấy vẽ các ngõ lên đầu gối. Nàng chỉ khoảng sân, giếng, bệ tượng và những lối dẫn ra. Bảo kể những gì mình nhớ: chỗ Thôi thúc đặt bàn, lối sang nhà lão Kỷ, đường tới nhà cũ. Có những khoảng hắn không nhớ từng có vật gì; nàng để trống, không tự nối chúng lại.
“Từ đây tới giếng có bao nhiêu bước?” Hổ hỏi.
Bảo đứng dậy đếm, đi từ mép bệ tới chỗ cách miệng giếng một quãng, tránh dây gàu. Hắn quay lại, Hổ đếm theo lần nữa. Hai người ra kết quả lệch một bước, vì điểm dừng không giống nhau. Thanh Nghi đánh dấu trên giấy chỗ họ đứng, không chọn ngay một con số.
“Ngày trước con chạy qua đây suốt,” Bảo nói. “Chưa bao giờ đếm.”
“Lúc đó ngươi đang chạy đi đâu?”
“Có khi tới quầy thịt. Có khi tới giếng. Có khi bà Mạnh gọi, con tưởng bà sẽ cho bánh.” Hắn nhìn lại bệ tượng. “Con không nhớ đã nhìn nó hay chưa.”
Hổ nhận lấy bình nước, rót thêm cho Xám. Con la cúi đầu uống, lồng trên lưng khẽ nghiêng. Ô Kê lập tức bước sang phía thấp, cào vào đáy. Bảo tới giữ lồng, kiểm dây. Dây buộc vào sọt vẫn chắc; nút cửa cũng chưa mở.
“Ta để lồng xuống nhé?” hắn hỏi.
“Đợi Xám uống xong,” Hổ nói. “Ta tháo cùng ngươi.”
Bảo đứng cạnh đầu lồng. Ô Kê thò mỏ qua nan, kéo đầu sợi dây cửa. Hắn vừa đưa tay định gỡ thì con gà giật mạnh. Nút dây ban sáng xoay ra ngoài, nhưng một vòng đã lỏng; cánh cửa bật hé.
“Ô Kê!”
Bảo chụp lấy mép cửa. Con gà đã luồn đầu và một cánh qua khe. Hổ giữ dây cương để Xám không giật mình; con la ngẩng lên, nước nhỏ từ mép xuống đất. Bảo định ôm con gà trở lại, nhưng nó đạp vào đáy lồng, đẩy cửa bật rộng.
Ô Kê nhảy khỏi lưng Xám.
Nó chạm đất, xòe cánh giữ thăng bằng rồi chạy qua khoảng sân. Bảo bước theo ngay, nhưng Thanh Nghi gọi hắn dừng: phía trước có người giữ dây gàu và những người đứng gần giếng. Nếu cả nhóm cùng đuổi, họ có thể va vào người làng hoặc sợi dây.
“Ô Kê, lại đây!”
Con gà không quay đầu. Nó chạy vòng qua chân người phụ nữ ôm rau, lách giữa khoảng trống cạnh cọc và miệng giếng. Bảo đi nhanh tới mép sân, dừng cách người giữ gàu một quãng. Hổ ở cạnh hắn; Thanh Nghi giữ Xám phía sau.
Ô Kê tới chân giếng, đứng một mình dưới thành đá.
Nó ngẩng đầu nhìn người đàn ông giữ dây, rồi nhìn vào khoảng tối bên trong. Bảo gọi thêm lần nữa. Con gà không chạy lại, cũng không mổ thóc hắn vừa lấy ra khỏi túi. Nó chỉ đứng yên, cổ vươn lên, lắng nghe một điều mà từ chỗ Bảo đứng không nghe thấy.