Chương 342: Người Từng Sửa Giếng
Tạ Tiểu Bảo đem hình vẽ chân giếng ra khỏi túi trước khi tới ngã chia.
Hắn đã gấp tờ giấy làm tư để tránh ướt. Mở ra, đường chì chỉ hai phiến đá và khe ở giữa vẫn còn rõ. Bên cạnh có một chấm nhỏ đánh dấu chỗ Ô Kê mổ; hắn đã viết thêm mấy chữ *chưa biết là vết gì*.
Hổ nhìn qua vai hắn. “Ngươi đã kiểm nó ở nhà rồi.”
“Con chỉ xem giấy có bị gập vào hình không.”
“Giờ thì sao?”
“Có một nếp.” Bảo vuốt giấy. “Nhưng không che mất.”
Thanh Nghi đưa hắn mảnh bìa mỏng còn lại từ bọc hàng của ông Lộc. Hắn kẹp hình vào giữa, bỏ lại vào túi. Hôm nay Hổ và Thanh Nghi đi cùng hắn tới giếng ngoài để hỏi ông Thuận về người từng xây hoặc sửa giếng làng. Dư An ở lại cạnh bà Mạnh; Ô Kê và Xám cũng ở dưới mái hiên.
Qua rặng cây, Bảo nhìn xuống lối nước. Hôm trước họ gặp ông Thuận bên bẫy cá, nhưng không có nghĩa hôm nay ông cũng ở đó. Hắn định gọi từ ngã chia thì nghe tiếng gậy chạm đá từ phía giếng ngoài.
Ông Thuận đang ngồi vá miệng giỏ. Một đoạn nan gãy được đặt trên đầu gối, bên cạnh là cuộn dây nhỏ. Thấy nhóm Bảo, ông giơ chiếc giỏ lên.
“Ta vừa định hỏi có ai biết đan không. Cái này mắc vào cành, rách một bên.”
Hổ cúi xem. “Ta từng vá rổ, để ta thử giúp.”
Bảo lấy hình giếng ra. Trong lúc Hổ giữ miệng giỏ và luồn nan mới, hắn kể chuyện Ô Kê chạy tới giếng làng, bới chỗ đất ở khe đá. Hắn nói họ thấy một vệt sẫm, chưa biết là nét khắc hay vết nứt, rồi hỏi:
“Ông có biết ai từng sửa giếng ấy không?”
Ông Thuận cầm tờ giấy, nhìn khá lâu. “Ta không sửa giếng trong làng. Nhưng ta biết một người thợ đá từng tới đó với cha ông ấy. Ông tên Cẩn, sống bên đường chợ cũ.”
“Ông ấy có còn ở đó không ạ?”
“Lần gần nhất ta gặp thì có. Ông làm bậc cửa cho nhà gần nước. Ta có thể chỉ đường, còn ông ấy nhớ được chuyện giếng tới đâu thì phải hỏi.”
Bảo định đứng dậy ngay. Hổ vẫn đang giữ chiếc giỏ, một đầu nan chưa luồn qua. Hắn ngồi xuống lại, nhặt giúp mảnh dây bị rơi. Hổ đan xong một lượt, đưa chiếc giỏ cho ông Thuận thử. Ông đặt mấy hòn đá nhỏ vào, nhấc lên; miệng giỏ chưa bung.
“Ta sẽ tự buộc thêm ở nhà,” ông nói. “Cảm ơn cậu.”
Ông dẫn họ theo đường dưới tới một căn nhà có sân lát đá. Trong sân, một người đàn ông lớn tuổi đang mài cạnh tấm đá nhỏ. Tiếng mài đều đều, mỗi lần đẩy đi lại có nước tràn qua mép. Ông Thuận gọi tên Cẩn, người thợ đặt dụng cụ xuống và ra chào.
Bảo đưa hình vẽ, nói giếng ở giữa Lạc Kê có một khe như vậy. Ông Cẩn nhận giấy, đưa gần mắt rồi hỏi hắn đã vẽ nhìn từ phía nào. Bảo chỉ vị trí người giữ gàu và bệ tượng trên hình.
“Ta từng tới làng với cha, nhưng lâu rồi,” ông Cẩn nói. “Khi ấy chúng ta sửa rãnh thoát nước cạnh giếng, không xây giếng mới.”
“Ông có nhấc những phiến đá quanh giếng không ạ?”
“Có một phiến ở mép ngoài bị kênh, cha ta cùng người làng nâng lên rồi đặt lại. Ta còn trẻ, chỉ phụ mang cát và nước.” Ông chỉ lên hình. “Cháu vẽ khe này ở sát chân giếng. Ta không nhớ phiến đã nâng nằm đúng chỗ ấy hay phía khác.”
Bảo nhìn tờ giấy, cố tưởng tượng người thợ cùng cha đứng ở sân làng. “Dưới phiến đá có gì?”
“Đất và một lớp đá khác. Có đoạn rãnh nhỏ dẫn nước ra ngoài. Ta không nhìn hết dưới nền, chỉ thấy chỗ đã mở.”
“Có phải giếng là một cái lò không?” Câu hỏi bật ra trước khi Bảo kịp nghĩ. Hắn nhớ chiếc nồi đen, những bệ lò từng thấy trên đường khảo sát và Ô Kê đứng ở chân giếng. Nhưng hắn chưa từng thấy đáy giếng, cũng chưa có ai nói nó là lò.
Ông Cẩn ngẩng lên. “Ta chỉ sửa rãnh. Ta không thấy lò.”
Bảo cúi đầu. “Con xin lỗi. Con hỏi vì ở nơi khác con đã gặp bệ lò. Con không biết giếng này có liên quan hay không.”
“Không cần xin lỗi vì hỏi.” Ông thợ đặt hình lên một tấm gỗ khô. “Nếu cháu muốn biết cấu tạo, phải xem tận nơi. Đừng nạy đá sát thành giếng chỉ vì nghĩ phía dưới có thứ mình tìm.”
“Trong làng có người đang đứng giữ gàu,” Thanh Nghi nói. “Chúng tôi đã không nhấc đá. Người ấy và nhiều người khác chuyển động rất chậm; chúng tôi chưa biết nguyên nhân.”
Ông Cẩn nhìn nàng, rồi nhìn ông Thuận. Ông Thuận kể ngắn những gì mình tận mắt thấy khi vào làng: bà Mạnh đứng bên bàn, bà cụ trong vườn không đáp, người giữ dây gàu ở giữa sân. Ông không thêm những điều mình chỉ nghe từ Bảo.
Người thợ im lặng. “Ta không biết chữa chuyện ấy. Nhưng nếu các vị cần xem đá, ta có thể đi cùng. Hôm nay ta còn tấm bậc phải trả cho khách. Ngày mai, sau khi giao xong, ta tới giếng ngoài được.”
Bảo hỏi có thể trả tiền công không. Ông Cẩn nói sẽ tính sau khi biết phải làm gì; nếu chỉ tới nhìn và hỏi đường thì không cần trả ngay. Ông viết tên mình, chỉ vị trí nhà, dặn nếu ngày mai có việc đổi giờ ông sẽ báo qua ông Thuận.
Trên đường về giếng ngoài, Bảo mở sổ ghi: *Ông Cẩn từng phụ cha sửa rãnh cạnh giếng, có nâng một phiến ở mép ngoài, không nhớ đúng vị trí. Ông chưa thấy lò.* Hắn viết dòng cuối đậm hơn, vì chính hắn đã hỏi câu ấy.
Hổ nhìn chữ. “Sao tự nhiên ngươi hỏi cái lò?”
“Ô Kê cứ nhìn vào khe. Con nhớ những bệ lò chúng ta từng thấy.” Bảo đóng sổ. “Nhưng con chưa có gì để nói giếng là lò. Con chỉ muốn hỏi.”
Thanh Nghi bảo hắn mang theo bản chép dấu nếu ông Cẩn tới, nhưng đừng mong người thợ phải đọc được ký hiệu cũ. Ông ấy có thể biết đường nước và cách đặt đá; một câu trả lời về việc khác vẫn hữu ích.
Họ về tới làng khi nắng còn trên hàng rào nhà bà Mạnh. Dư An ra hiên đón. Ông nói chiếc bánh đã thêm một nếp nhỏ, còn Ô Kê vừa uống nước. Bảo chạy tới lồng trước, nhìn con gà; nó đứng sát nan, không mổ dây cửa. Hắn kể mình đã tìm được người từng phụ sửa giếng.
“Ngày mai ông ấy tới, nếu giao xong việc,” hắn nói. “Ông ấy chưa hứa sửa, chỉ xem trước.”
Dư An nghe lại câu chuyện một lần, hỏi ông Cẩn có nhắc đã mở nền gần người giữ gàu không. Bảo đáp ông không nhớ đúng vị trí. Dư An bảo như thế càng nên đợi người thợ xem tận nơi, bởi cái giếng và người đang đứng bên cạnh đều không thể coi là một khoảng đất trống.
Chiều đó, Bảo cùng Thanh Nghi trở lại sân giữa làng, không mang Ô Kê. Hắn muốn đối chiếu hình mình đã đưa ông Cẩn. Chỗ con gà bới vẫn lộ vệt sẫm. Một ít đất khô đã bị gió thổi khỏi mép, để lộ đường ấy chạy tới sát thành giếng rồi khuất dưới chân đá dựng đứng.
“Có thể chỉ là mạch nối giữa hai viên,” Thanh Nghi nói.
Bảo lấy ngón tay chỉ trên không, không chạm vào nền. “Nhưng đoạn này không thẳng theo mép phiến.”
Nàng cúi xuống. Đúng là vệt sẫm lệch một chút khỏi đường tiếp giáp. Nó quá ngắn để nói thuộc về hình nào. Bảo bổ sung đoạn mới nhìn thấy vào hình trong sổ, ghi rằng nét ấy khuất dưới chân đá, không biết còn tiếp tục hay không.
Hắn ngẩng lên. Người đàn ông giữ dây gàu đứng ngay bên trên phần nền ấy, như bao lần trước. Hắn gọi bác, kể ngày mai sẽ có một người thợ tới xem giếng. Rồi hắn nhìn xuống nước. Ánh sáng rọi qua miệng giếng, mặt nước ở sâu bên dưới phản lên một vệt nhạt. Hắn không thấy đáy.
“Ngày trước con từng thả một chiếc lá xuống đây,” hắn nói. “Con đợi nó nổi lên rồi mới về.”
“Lá nổi ngay chứ?”
“Con nhớ nó chạm nước. Còn đợi bao lâu thì con không nhớ.”
Hắn muốn tìm một ký ức có thể giải thích chiếc giếng, nhưng ký ức ấy chỉ là một đứa trẻ cúi nhìn lá rơi. Thanh Nghi không hỏi thêm. Nàng ngồi xuống chỗ ghế đã đánh dấu, nhìn mép gàu so với vết sứt. Lần này mép gàu đã gần che hết đường sáng. Nàng gọi Bảo nhìn, rồi ghi lại vị trí. Chưa ai biết lúc nào người giữ dây sẽ đặt gàu xuống.
Trên đường về, họ ghé bệ tượng. Đoạn cong dưới chân tượng vẫn lộ ra như hôm trước. Bảo không rửa bùn hay cạy đá. Hắn muốn ngày mai hỏi ông Cẩn đường nào là vết đục, đường nào do nước và thời gian tạo thành.
Đêm đó, sau bữa cơm, Bảo kể cho bà Mạnh nghe về người thợ tên Cẩn và chuyện ông từng phụ cha sửa rãnh. Hắn kể cả câu hỏi của mình về cái lò, và câu trả lời rằng ông Cẩn chưa thấy lò ở đó.
“Con chưa biết giếng là gì ngoài chỗ lấy nước,” hắn nói. “Nhưng Ô Kê muốn tới đó, và con muốn tìm xem vì sao.”
Hắn viết thêm tên ông Cẩn vào sổ, đặt hình chân giếng bên cạnh hình bệ tượng. Ngoài hiên, Hổ thử đoạn dây mới để buộc lồng cho chắc. Ô Kê gõ mỏ vào nan một cái, rồi đứng yên. Bảo ngẩng lên nghe; lần này hắn biết âm thanh ấy tới từ đâu.