Chương 241: Đặt Các Tờ Giấy Cạnh Nhau
Mộc Vô Nhai chờ Bảo ăn xong mới hỏi chuyện.
Lão ngồi ở mép bàn bếp, trước mặt là một bát canh gần cạn. Tạ Tiểu Bảo vừa trở về từ ca cửa, nhận cơm với rau và ít cá. Hắn kể đã xem dòng số chín trong sổ của Thiên Mệnh Điện: tên hắn nằm ở cột vật tư, phiếu nguồn ghi Nhân Gian Lô, còn yêu cầu tách người khỏi vật đã được nhận nhưng chưa có kết luận.
Mộc không đưa tay lấy giấy. Lão hỏi hắn còn giữ bản có chữ ký của người nhận yêu cầu không. Bảo lấy ra, đặt trên bàn khô. Lão đọc chậm, dừng ở dòng hẹn ba ngày sẽ báo giấy đã chuyển tới đâu.
“Đến ngày thì hỏi,” lão nói.
“Con sẽ hỏi. Lão có biết người lập phiếu này không?”
“Ta chưa thấy ký hiệu ấy.”
Bảo đưa bản chép ký hiệu và số tập. Mộc nhìn, lắc đầu lần nữa. Lão không nói biết người lập. Hắn gấp giấy, nhưng chưa cất; một câu hỏi khác đã nằm trong đầu từ lúc rời mái bắc.
“Người giữ giấy của hội gọi chín vòng trên sơ đồ là chín cửa. Sân phía tây và mái bắc đều có bếp. Có phải mỗi cửa đều có người trực như ông Mạc không?”
Mộc đặt thìa xuống. “Ngươi đã thấy bao nhiêu nơi?”
“Hai nơi có bếp. Một nơi tắt, một nơi còn lửa. Con chưa biết cả hai có phải cửa không.”
“Vậy đặt những gì ngươi thấy cạnh nhau trước.”
Lão bảo chiều nay rảnh, có thể cùng Bảo và Thanh Nghi xem bản chép họ được phép giữ. Lão nhắc chiếc mảnh kim loại vẫn cất riêng như đã hẹn; không cần mang ra chỉ để nói về hai bếp. Hắn đồng ý, ăn hết cơm rồi rửa bát.
Thanh Nghi đến phòng ghi chép sau giờ trực. Nàng mang bản đo sân phía tây, bản chép câu về bếp trong sổ trạm và tờ ghi việc giữ lửa ở mái bắc. Những giấy liên quan riêng tới bà Liên và người trong xóm nàng để lại phong bì của họ. Hứa Đồng cho mượn chiếc bàn rộng, dặn nếu muốn dùng bản nào của người khác thì hỏi trước khi chép tiếp.
Mộc trải một tờ giấy trống ở giữa. Lão bảo Bảo đặt bản sân phía tây bên trái, bản mái bắc bên phải. Hắn làm theo, để khoảng cách đủ cho một tờ giấy khác.
“Sân phía tây có gì?” lão hỏi.
“Bệ đá, bia còn hai chữ ‘giữ phần’, một rãnh nông và chỗ giữ nước. Con không thấy lửa.”
“Mái bắc?”
“Một bếp đang có lửa, ông Mạc đã giữ. Có sổ dày, một thẻ và một cuốn sổ bìa xám tìm ở kho. Ông mất, mọi người thay nhau giữ lửa; chưa ai nhận toàn bộ ca.”
Thanh Nghi thêm: “Hai nơi đều có lời nhắc đến phần và người đến sau, nhưng trong những giấy khác nhau.”
Mộc dùng đầu bút chỉ khoảng giữa hai tờ. “Điều gì nối được hai nơi?”
Bảo nghĩ tới tờ tuyến cũ có “giao sổ bếp” và “nhận thẻ ca”, tới cuốn sổ trạm nói bếp nhận một nồi rồi chia ra từng phần. Hắn đặt các bản chép đã được phép dùng vào giữa, nói rõ tờ nào từ người giữ đường, tờ nào từ người từng giữ tuyến của hội. Mộc đọc một lượt, không gộp chúng thành cùng một cuốn sổ.
“Có thể họ từng cùng dùng một cách ghi,” lão nói. “Cũng có thể người sau mượn lời của người trước. Muốn nối thêm, phải xem dấu của từng điểm.”
Bảo lấy bản nháp về chín vòng. Hắn đã ghi lời người giữ giấy của hội, nhưng không vẽ vị trí vì không nhớ đủ. Hắn hỏi lão có biết ký hiệu hình vòng nhỏ nét ngang trên trang tuyến không. Mộc nhìn nét Thanh Nghi chép, hỏi bản gốc ở đâu. Nàng nói người từng giữ tuyến còn giữ mảnh sổ; bà chỉ cho chép phần liên quan tới hai điểm.
“Ta có một bản chép cũ,” Mộc nói. “Không biết có cùng nghĩa. Ta mang tới được nếu các ngươi không chép phần có tên người khác.”
Lão rời phòng, trở lại với một tờ giấy đã gấp nhiều lần. Trên mặt là hình các đoạn cong nối nhau, ở hai góc có những vòng tròn và mấy chữ đã nhạt. Lão che phần tên bằng một mảnh giấy sạch, để lộ ký hiệu ở giữa.
Thanh Nghi đặt bản của nàng cạnh đó. Hai dấu đều có vòng và nét ngang, nhưng nét trên giấy Mộc kéo dài qua mép vòng, nét của hội dừng ở trong. Bảo định nói giống nhau, rồi nhìn lại. Mộc bảo hắn vẽ cả hai, giữ sự khác biệt.
“Lão chép cái này ở đâu?” hắn hỏi.
“Từ một bản cũ ta từng giữ. Ta không nhớ người vẽ đầu tiên. Chỗ có tên thì ta chưa muốn đưa đi.”
“Có tên Lạc Kê không?”
Mộc nhìn hắn lâu hơn thường lệ. “Có.”
Bảo đặt bút xuống. Hắn hỏi tên làng nằm cạnh dấu nào. Lão không trả lời ngay; bàn tay đặt lên mảnh giấy che tên. Cuối cùng lão dịch giấy vừa đủ để lộ hai chữ Lạc Kê và một vòng nhỏ ở cạnh. Một góc của vòng bị nếp gấp cắt qua.
“Con có thể chép hai chữ này không?”
“Được. Chỉ hai chữ và dấu bên cạnh, chưa chép những tên khác.”
Thanh Nghi vẽ lại nếp gấp bằng đường đứt. Bảo nhìn vòng nhỏ, nhớ số chín trong sổ Điện, nhớ người giữ giấy của hội gọi chín vùng là cửa. Hắn hỏi vòng cạnh Lạc Kê có phải vòng thứ chín không.
“Trên tờ này không đánh số,” Mộc đáp.
“Lão biết không?”
“Ta biết có người từng gọi như vậy. Ta chưa đưa ngươi bản ghi lời ấy, nên hôm nay ta chỉ nói đây là lời ta nhớ.”
Bảo không thích câu trả lời. Hắn muốn lão bỏ mảnh giấy che đi, muốn biết ngay những cái tên còn lại. Nhưng Mộc đã giữ giấy, và nếu lão nói chỉ nhớ một phần thì hắn không thể tự ghi thành điều đã thấy. Hắn viết vào sổ: “Mộc nhớ có người gọi Lạc Kê là cửa thứ chín; bản đang xem không đánh số.”
Lão đọc, bảo thêm ngày và tên người nói. Hắn viết thêm. Thanh Nghi hỏi có thể đối tờ này với sơ đồ chín vòng của hội tại một buổi gặp không. Mộc nói sẽ cân nhắc nếu người giữ giấy của hội cũng đồng ý; phần tên riêng vẫn phải che khi chưa được phép.
Ngoài cửa, Hổ mang nước tới, thấy ba người đứng quanh bàn liền hỏi có phải đã tìm được đường về làng không. Bảo chỉ hai chữ trên bản chép. Hổ đọc được tên, đặt bình xuống.
“Nếu muốn về, ngươi còn tiền xe không?”
“Còn một ít. Nhưng ta chưa hỏi đường, chưa xin nghỉ.”
“Ta có thể để dành thêm.”
Bảo nói chưa biết có cần người đi cùng hay không. Hổ không cãi, chỉ rót nước cho mọi người. Khi đưa bát cho Mộc, hắn hỏi lão đã ăn trưa chưa. Lão đáp đã ăn, rồi bảo Hổ nếu còn phần khoai trong túi thì đừng giấu, mùi đã bay tới bàn.
Hổ lấy củ khoai ra, bẻ làm bốn. Bảo nhận một miếng, Thanh Nghi một miếng, Mộc nhận phần nhỏ nhất và phàn nàn hắn chia lệch. Hổ đổi cho lão phần lớn hơn, lão lại trả về. Họ ăn xong mới tiếp tục xem giấy.
Hứa Đồng vào lúc chiều muộn. Ông nghe họ kể Mộc có bản chép mang tên Lạc Kê, hỏi bản ấy có được mang đi không. Lão đáp chưa; ông chỉ xem phần Mộc để lộ và ghi nguồn là lời lão. Ông hẹn sẽ hỏi Nhất Dực Hội về buổi đối sơ đồ, đồng thời nhắc ngày Phùng hẹn báo việc chuyển yêu cầu của Bảo vẫn còn hai ngày.
Bảo nhìn ba tờ: bản hai bếp, ký hiệu vòng và chữ Lạc Kê. Hắn muốn vẽ một đường nối thẳng từ làng tới mái bắc, nhưng chưa có đủ vị trí hay khoảng cách. Hắn chỉ vẽ ba ô, viết tên nơi họ đã đến và một ô ghi “Lạc Kê — lời Mộc”.
Trước khi về, Mộc gấp tờ giấy của lão, giữ phần tên khác ở trong. Lão hỏi Bảo chiếc nồi có an toàn không. Hắn nói vẫn bọc dưới gầm giường, chưa ai yêu cầu đưa. Lão nhắc hắn kiểm chốt phòng, rồi trả bản chép hai chữ cho Thanh Nghi.
Tối, Bảo cùng Hổ xem Ô Kê; người coi đã cho ăn và thay nước. Hắn ăn cơm với canh, không mua thêm gì, tiền còn sau chuyến gặp người giữ sổ. Trong phòng, hắn đặt bản chép Lạc Kê cạnh tờ yêu cầu sửa mục số chín.
Hai tờ có cùng số được nhắc tới, nhưng chỉ một tờ viết số ấy. Hắn lấy bút đặt giữa chúng, để trống khoảng giấy còn lại.