Chương 482: Dưới Nền Chợ Cũ
Chủ hiệu nhuộm không muốn cho ai đào sân.
Ông tên Thiện, đang ngồi vá một chiếc rổ tre khi Bảo và Thanh Nghi đem tấm ván đến. Nghe họ hỏi về căn bếp cũ dưới nền, ông đặt kim xuống, nhìn khoảng sân phơi vải xanh sau nhà.
“Dưới đó có đường ống dẫn nước nhuộm. Đào trúng, cả sân phải nghỉ làm.”
Bảo trải tấm ván trên bậc cửa, chỉ hình giếng và ba bậc thang. Ông Thiện nhận ra cái giếng: nó đã được lấp từ khi ông mua nhà. Còn vị trí bậc thang thì nằm dưới một góc sân, gần chỗ các chum thuốc nhuộm.
“Ta không biết có bếp,” ông nói. “Khi sửa sân chỉ thấy nền gạch cũ. Người thợ bảo bên dưới rỗng một đoạn, bèn đổ đất lấp.”
Thanh Nghi hỏi ai là người thợ. Ông Thiện cho biết ông ấy đã chuyển đi nơi khác, nhưng bản vẽ đường ống vẫn còn. Ông vào nhà lấy ra một cuộn giấy, trải cạnh tấm ván của bà Liên. Đường ống chạy sát bức tường phía đông, cách dấu bậc thang một khoảng; thế nhưng bản vẽ không ghi độ sâu và không chắc người thợ đặt đúng từng nét.
Bảo đề nghị chỉ tìm miệng cầu thang, không đào gần đường ống. Ông Thiện nhìn những tấm vải còn ướt trên sào. “Ngày mai có hàng phải giao. Hai người làm hỏng ống, lấy gì trả công cho thợ và đền vải?”
Bảo im lặng. Số tiền trong túi hắn không đủ sửa cả sân. Thanh Nghi hỏi nếu thuê người thợ ông Thiện tin cậy xem trước thì thế nào. Ông bảo chiều có bác Hậu chuyên sửa giếng đến giao chum, có thể nhờ xem. Phí xem do họ trả, còn xem xong ông mới quyết định.
Bảo đồng ý. Hắn để tấm ván lại trong nhà, nhờ ông Thiện cất nơi khô, rồi cùng Thanh Nghi ra chợ ăn sáng. Một bát mì nóng làm hắn quên mất chuyện phải chờ trong chốc lát. Đến lúc trả tiền, hắn nhìn số còn lại, tính cả tiền xe về và công bác Hậu; nếu cần đào tiếp, hắn phải hỏi bà Mạnh trước chứ không tự nhận thay.
Thanh Nghi lấy tiền trả bát của mình. “Ngươi đang nghĩ về tiền đào sân?”
“Ừ. Ta tưởng tìm được chỗ rồi thì chỉ cần mở ra.”
“Người ta đang sống và làm việc trên đó.”
Bảo gật đầu. Hắn không thích việc chờ, nhưng nhìn người bán mì vừa thu bát vừa tính tiền củi, hắn hiểu một buổi nghỉ làm của hiệu nhuộm không phải khoảng trống trên tờ giấy.
Chiều đến, bác Hậu xem cả hai bản vẽ rồi gõ cán cuốc lên nền sân. Một chỗ phát tiếng đục hơn, ngay cạnh bậc cửa cũ. Bác bảo có thể bên dưới còn khoảng rỗng, nhưng cũng có thể chỉ là đất lún. Muốn biết phải nhấc vài viên gạch ngoài đường ống, làm bằng tay và dừng ngay nếu thấy nước thấm hoặc nền sụt.
Ông Thiện đồng ý cho mở một ô nhỏ sau khi thợ đã chuyển vải vào nhà. Bảo trả tiền công xem và phụ chuyển sào. Một cô thợ nhuộm tên Hạnh nói nếu hôm nay không phơi lại được thì mai vải sẽ chậm giao; ông Thiện cho cô và hai người khác chọn chỗ sân bên cạnh phơi nhờ, trả tiền thuê theo buổi. Nghe vậy, Bảo xin góp khoản thuê ấy. Ông nhận một nửa, nói nửa còn lại ông tự chịu vì cũng muốn biết nền sân có hốc rỗng hay không.
Bác Hậu nạy viên gạch đầu tiên. Dưới lớp vữa là đất nện và một mép đá chạy xiên. Ba người đào thêm, để lộ bậc thứ nhất. Bậc thứ hai nằm thấp hơn, bị đất phủ kín; nước mưa cũ rịn qua khe tường.
“Đúng là cầu thang,” Thanh Nghi nói.
“Đúng là có cầu thang,” bác Hậu sửa. “Còn xuống được hay không phải xem.”
Ông Thiện mang đèn tới. Họ lấy đất khỏi miệng cầu thang, làm một lối đủ nhìn xuống. Có ba bậc như trên ván, nhưng dưới cùng bị một tấm gỗ mục chặn ngang. Mùi ẩm bốc lên. Bảo định cúi xuống nhấc, bác Hậu kéo tay hắn lại.
“Để thoáng trước. Có thể không khí dưới ấy không tốt, lại không biết tường còn chắc không.”
Họ mở rộng miệng hốc một chút, đặt rào quanh để không ai bước nhầm. Bác Hậu dùng thanh tre dài đẩy tấm gỗ; nó vỡ ra, rơi xuống nền bên dưới. Ánh đèn lọt vào một gian thấp. Ở góc xa có bệ gạch, một chiếc nồi úp nghiêng và một hàng chum đã vỡ.
Bảo nhìn bệ gạch, bất giác siết tay. Không có ánh sáng lạ, cũng không có tiếng gọi từ lòng đất. Chỉ có một căn bếp bỏ lâu ngày, bụi phủ lên chỗ người ta từng nấu ăn.
Ông Thiện hỏi liệu căn phòng có thông sang kho thuốc không. Bác Hậu bảo chưa thấy, cần kiểm tra tường và nền trước khi xuống. Ông đề nghị sáng hôm sau đem dụng cụ, rủ thêm một người quen xem kết cấu. Ông Thiện đồng ý, nhưng bảo sẽ không phá rộng nếu có nguy cơ ảnh hưởng xưởng.
Bảo nhìn chiếc nồi dưới đất. Hắn muốn tự xuống nhặt lên. Thanh Nghi đứng cạnh, không giữ hắn, chỉ hỏi: “Ngươi định đem theo gì?”
“Đèn.”
“Còn đường ra?”
Hắn nhìn bậc thang ướt và tấm gỗ vừa gãy. “Chờ bác Hậu ngày mai.”
Họ che hốc bằng tấm bạt, chừa khoảng thoáng, rồi xếp gạch làm dấu. Ông Thiện cho phép Bảo giữ một bản chép sơ đồ sân, dặn không tự ý đưa người tới khi ông vắng mặt. Bảo cảm ơn, trả tấm ván cho dì Cúc trên đường về và kể đã tìm thấy cầu thang.
Dì Cúc ngồi thụp xuống ghế. “Ta cứ tưởng họ lấp sạch rồi.”
Bà kể hồi còn trẻ từng mang đậu xuống bếp, thấy bác Phúc chia cơm cho những người dọn chợ. Bác ít nói, nhưng luôn để một chiếc bát úp cạnh nồi. Ai đến muộn thì tự lấy. Có một hôm mưa, bà Liên đem gạo tới, bác Phúc bảo phần đó dành cho người đi đường bị kẹt; dì Cúc không nhớ bao nhiêu bao hay có phải chuyến trong thư.
“Sau đó bác ấy đi đâu?” Bảo hỏi.
“Bác về quê con gái. Mấy năm sau có người báo bác mất. Ta chỉ nhớ con gái bác bán dầu ở chợ mới.”
Thanh Nghi hỏi tên người con gái. Dì Cúc nhớ tên Đào, nhưng không biết giờ còn bán ở đó không. Bảo ghi lại. Một cái tên mới, nhưng hắn không muốn để căn bếp thành một cuộc tìm người nối tiếp mãi. Ngày mai, nếu căn phòng xuống được, hắn muốn xem bệ bếp và tìm dấu của việc nấu nướng trước.
Tối ấy, bà Mạnh nghe họ kể, lấy một chiếc bát sứ đặt lên bàn. Đó là bát Mộc từng dùng trong bữa cuối. Bà vẫn cất nó cùng những bát khác, nhưng hôm nay nhận ra vết sứt ở miệng nên để riêng chờ mài nhẵn.
“Ông ấy cũng hay để lại một phần,” bà nói. “Có lúc người đến muộn không nhận, ông tự ăn bữa sau.”
Bảo chạm vào mép bát rồi rụt tay vì chỗ sứt sắc. “Nếu phần để lại bị hỏng thì sao?”
“Thì bỏ. Để dành không có nghĩa là bắt người khác ăn đồ hỏng.”
Hắn ngồi xuống mài mép bát bằng viên đá nhỏ bà đưa. Công việc chậm và cần đều tay; chỉ cần nghiêng quá mạnh là vết sứt sẽ rộng hơn. Bà Mạnh ngồi bên chọn rau, Thanh Nghi hong lại tấm áo bị mưa. Trong bếp không ai nói chuyện một lúc lâu.
Sáng hôm sau, bác Hậu đến hiệu nhuộm cùng một người thợ. Họ kiểm tra miệng cầu thang, chống tạm một đoạn gỗ ở chỗ tường rời vữa. Sau khi để cửa thoáng và thử nền bằng thanh tre, bác đồng ý cho từng người xuống, với điều kiện một người ở trên giữ đèn và không động vào bức tường phía xưởng.
Bảo bước xuống sau bác. Bậc đá trơn, hắn vịn vào thanh gỗ mới dựng. Gian bếp thấp hơn hắn tưởng; mái vòm ám khói, giữa nền có một rãnh dẫn nước đã khô. Chiếc nồi dưới góc rạn đáy. Bác Hậu kiểm tra từng bước trước khi cho hắn tiến đến bệ gạch.
Trên bệ còn một hốc nhỏ. Bảo lấy chổi quét lớp bụi ở miệng, nhìn thấy một vật tròn bằng sành mắc phía trong. Hắn không kéo mạnh; bác Hậu dùng que gạt đất, rồi mới lấy ra được.
Đó là một chiếc bát úp. Bên dưới bát không có bạc, không có linh thạch. Chỉ có một mảnh giấy đã cứng vì ẩm, bị ép giữa hai miếng gỗ mỏng.
Bảo gọi Thanh Nghi xuống. Nàng nhận đèn từ ông Thiện, bước cẩn thận trên ba bậc đá. Bác Hậu nhắc mọi người đứng xa bức tường phía đông, rồi giúp đưa hai miếng gỗ lên mặt sân.
Mảnh giấy ở giữa còn đọc được mấy dòng. Có tên một bếp chung, một dấu gạch qua chữ cửu và danh sách những người nhận cơm trong mấy ngày mưa. Bên cạnh một dòng là nét ghi: *gạo từ nhà chợ, bao thứ hai rách*. Cuối trang có chữ ký Phúc, không kèm họ.
Bảo đọc lại dòng ấy hai lần. Đây là bằng chứng gạo từ nhà chợ đã được dùng ở bếp, ít nhất vào những ngày được ghi; nó chưa cho biết toàn bộ hai bao đã đi đâu. Nhưng từ lời kể của ông Lương, mẩu thư trong ống tre, đến căn bếp và trang ghi nhận, chuyến hàng lần đầu có một điểm đến có thể đối chiếu.
Ông Thiện ngồi xổm cạnh họ. “Vậy nơi này từng cho người ta ăn?”
“Vâng.” Bảo nhìn xuống chiếc bát sành. “Có người để lại bát cho người đến muộn.”
Ông Thiện gọi cô Hạnh ra xem. Cô nhìn bệ gạch dưới cửa hốc, nói ngày mưa thợ nhuộm vẫn ăn cơm trong xưởng vì quán gần đó đóng sớm. Ông Thiện đáp để xong hàng hôm nay rồi bàn xem có thể giữ lại lối xuống và sửa gian bếp an toàn hay không. Ông không hứa mở ngay; bác Hậu cũng nói cần xem kỹ nền và đường nước trước.
Bảo đặt chiếc bát sành lên tấm vải khô. Trên miệng bát có một vết sứt nhỏ, tròn cạnh vì đã được mài từ lâu.