Chương 463: Đổi Chiều Tấm Đồng
Vĩnh đánh thức Bảo vào lúc trời còn tối.
“Có người mang thư từ trạm. Họ hỏi ngươi đã dậy chưa.”
Bảo ngồi bật dậy, đầu va vào mép cửa sổ. Hắn ôm trán, hỏi mực nước có xuống nữa không. Vĩnh lắc đầu: lượt đêm nước nhích lên thêm một ít, đèn vẫn sáng. Người đưa thư đã chờ ở gian ngoài, không phải người báo tin khẩn.
Thanh Nghi thắp đèn, đưa Bảo bát nước. Người khách tự giới thiệu là người làm việc cùng Tề; anh mang một bản chép từ kho giấy của điện và thư gửi Vĩnh. Anh không đi vào hiên, chỉ ngồi trước bàn sau khi được mời.
Bản chép vẽ một chiếc bát, tấm đồng và ba vạch. Dưới hình có ghi nét ở đầu tấm đồng phải hướng về khe thoát. Người sao ghi bản này lấy từ giấy lưu của điện, nhưng không biết người vẽ có từng đến cửa biển không.
“Giống lời bà Hạnh,” Bảo nói.
“Giống,” Thanh Nghi đáp. “Nhưng chúng ta vẫn cần xác định khe ở đâu.”
Vĩnh chỉ bản vẽ bà Liên đã làm hôm qua. Khe nằm bên trái khi nhìn từ trong nhà ra biển; nét ngắn trên tấm đồng hiện hướng về phía biển. Người sao không có gì thêm để xác nhận vị trí khe, vì anh chưa từng xuống bệ. Anh nói điện đồng ý để người trực tại chỗ xem và quyết định cách đặt lại, rồi gửi kết quả.
Thư của Tề hỏi nước đã lên thêm chưa, và đề nghị cử một người biết đo phần tới cửa. Người ấy đã rời trạm sáng hôm qua, dự tính đến trong ngày. Tề ghi rõ họ đến để xem và bàn, không mang lệnh lấy nồi. Bảo đọc kỹ câu ấy rồi trả thư cho Vĩnh.
“Ông ấy có biết con đang ở đây không?” hắn hỏi.
Người đưa tin đáp Tề đã nhận được thư có chữ ký Bảo, nhưng không biết hắn định ở lại bao lâu. Bảo nói mình còn chờ câu trả lời từ Lạc Kê về bản ghi hai cửa chia phần. Anh nhận nghe, không yêu cầu hắn ký thêm.
Bà Liên đến đổi ca. Sau khi xem mực nước, bà hỏi Vĩnh liệu có thể chỉnh tấm đồng trước khi người của điện đến. Ông muốn đợi thêm một lượt để so mức nước mới; cô gái trực đêm nói tấm đồng có thể tháo mà không chạm bát, nhưng cần một người giữ vòng gỗ vì gió mạnh.
Thanh Nghi đề nghị ghi lại khoảng cách từ mặt nước đến mép bát trước, rồi mới tháo. Nếu nước đổi trong lúc tháo, họ sẽ biết không nên so ngay với vạch vừa đặt. Bà Liên đồng ý, nhờ cô gái trực đêm ở lại quan sát một lát và hẹn người khác nhận lượt sau.
Bảo đưa thước cho Vĩnh, không đặt tay vào bệ. Vĩnh đo, đọc số để Bảo ghi. Bà Liên chụp một chiếc đĩa sứ lên tờ giấy đặt gần cửa, tránh gió. Người đưa tin ngồi ở gian ngoài; anh xin được chép lại kết quả nhưng không tham gia chỉnh.
Khi tấm đồng được nhấc lên, Bảo thấy dưới nó có một miếng gỗ mỏng bị lệch. Cô gái trực đêm nói miếng ấy thường dùng chêm cho tấm đồng đứng vững, không phải một phần của dấu. Bà Liên kiểm cả hai đầu, rồi đặt tấm đồng theo hướng bà Hạnh chỉ: nét ngắn quay về khe thoát bên trái.
Vĩnh đặt thước lại. Vạch thấp không còn ở đúng chỗ cũ; mặt nước vẫn thấp hơn vạch, nhưng khoảng cách ít hơn lúc tấm đồng quay ngược. Ông đọc cho Bảo ghi, sau đó đo lại lần nữa. Hai lần gần giống nhau.
“Vậy hôm qua chúng ta báo sai?” người đưa tin hỏi.
“Chúng ta báo theo tấm đồng khi ấy,” bà Liên nói. “Hôm nay đã chỉnh, phải gửi số mới. Việc nước xuống qua nhiều lượt vẫn còn trong sổ.”
Người trực ký vào dòng ghi thời điểm chỉnh. Thanh Nghi thêm chú thích về miếng gỗ chêm và cách đo. Bảo muốn gạch lời báo cũ cho khỏi gây hoảng, nhưng Vĩnh bảo giữ nguyên, kèm giải thích để người đọc biết vì sao hai số khác nhau.
“Ở tông, con từng chép sai hướng cửa,” Bảo nói. “Chỉ thiếu một chữ mà người khác có thể tìm sang chỗ khác.”
“Vậy ngươi hiểu,” Vĩnh đáp. “Cứ để chữ cũ và viết rõ đã sửa ở đâu.”
Bà Liên nhờ người đưa tin mang bản mới về trạm. Anh nhận, hỏi tên người có thể trả lời thêm nếu điện cần. Bà ghi tên mình và Vĩnh, không ghi tên người trực đêm vì cô muốn nghỉ sau ca. Cô gái nghe xong, gật đầu rồi về cùng Phong khi nước đủ thấp.
Trong lúc chờ người đo phần, Bảo đến kho hỏi ông Sửu về tiền công hôm trước. Hắn đã nhận đủ, chỉ muốn biết còn việc chuyển dầu không. Ông nói các chum đã vào kho, hai bình ở cửa và hai bình còn lại được phân phối theo bảng. Hôm nay cần khiêng chiếc kệ tránh chỗ mái dột. Bảo nhận làm, thỏa thuận tiền công bằng một bữa cơm và một ít tiền lẻ.
Ô Kê được chủ quán giữ. Lần này Bảo không buộc giỏ, chỉ đưa thóc và dặn nếu nó tìm cách đi theo thì nhờ đứa trẻ hôm trước dụ bằng vài hạt. Chủ quán cười: “Nó nghe lời trẻ hơn nghe ngươi.”
“Vì đệ ấy chưa đòi nó trả tiền cá.”
Bảo cùng hai người của kho dỡ hàng khỏi kệ, kê lại chân rồi chuyển từng bao lên. Hắn nhớ đừng lấy hàng của hai nơi đặt lẫn; ông Sửu dán mảnh giấy lên mỗi chồng, ghi tên người nhận và ngày. Một túi gạo bị rách góc, Bảo giữ miệng, người còn lại khâu tạm. Số gạo rơi được gom riêng cho chủ kho xem, không đổ lại ngay vì nền còn cát.
Làm xong, ông Sửu đưa Bảo bữa cơm như đã hứa. Hắn ăn một bát, rồi xin mua thêm bát thứ hai bằng tiền công vừa nhận. Ông đưa cơm, ghi phần còn lại của tiền công lên giấy nhỏ. Bảo không chê ít; hắn vẫn còn khoản xe về và đồng của Mộc để riêng.
Đầu chiều, người đo phần của điện đến trạm. Bà tên Ninh, mang một chiếc hộp gỗ và giấy giới thiệu của Tề. Bà xin gặp người trực trước khi xem bát. Vĩnh và bà Liên ra bến đón; Bảo cùng Thanh Nghi đi theo.
Ninh đọc các lượt nước xuống, việc thay lưới và chỉnh tấm đồng. Bà không nói họ làm đúng hay sai ngay. Bà hỏi lưới cũ còn giữ không. Bà Liên đưa chiếc rổ đặt dưới mái, rong đã se lại. Ninh kiểm từng chỗ, thấy một góc lưới có lỗ lớn hơn các mắt còn lại.
“Lỗ này có trước khi kéo lên không?” bà hỏi.
Phong đang vá dây gần đó, đáp lúc nhìn từ thuyền ông thấy rong phủ, không thấy lỗ. Bà Liên nói khi kéo lên bà giữ ở hai góc; lưới có thể đã rách từ trước hoặc khi vướng đá. Không ai nhận là mình biết chắc.
Ninh hỏi người trực có thể cho bà xem chỗ hứng nước khi thủy triều xuống không. Bà Liên đồng ý, nhờ Phong giúp giữ thuyền. Vĩnh muốn đi cùng; Ninh nhìn tay ông, bảo ông có thể đứng trên hiên đọc số đo. Ông nhận lời sau khi bàn với người đang trực.
Bảo đi cùng Thanh Nghi tới hiên. Hắn nghe tiếng Ninh và Phong phía dưới bệ, rồi thấy một sợi dây mảnh được đưa lên. Đầu dây có một nút nhỏ, dính đầy muối. Ninh nói nó buộc vào khung lưới, nhưng chưa rõ là dây cũ hay thứ mới mắc vào. Bà xin giữ nguyên nút để đưa bà Hạnh xem; bà Liên gật.
Mực nước không đổi rõ trong lúc họ quan sát. Ninh nói cần đo qua ít nhất vài lượt với tấm đồng đã đặt lại, đồng thời tìm người từng thay lưới trước đây. Bà Hạnh và Kha là những người có thể hỏi; bà muốn gặp họ vào sáng mai nếu họ nhận.
Bảo hỏi liệu nước xuống có liên quan phần được cấp chậm ở xóm không. Ninh nói có thể có liên hệ nhưng chưa đủ để kết luận; lịch cấp, mực bát và việc giao hàng thật phải đặt cạnh nhau. Bà xin bản chép các lượt mà Vĩnh đồng ý chia sẻ, cùng số liệu dầu và gạo đã giao, không yêu cầu tên người bệnh.
Thanh Nghi hỏi: “Nếu bát lại xuống nhanh trong đêm thì bà làm gì?”
“Ta ở lại đây. Ta có dụng cụ đo và sẽ bàn với người trực trước khi động đến bệ.”
Bà không đề nghị mở cửa hay chuyển phần ngay. Bảo nghe, nhớ lời Tín hỏi ở làng: nếu nơi khác cần giúp thì có phải chờ không. Họ đã chờ, nhưng trong lúc ấy những người ở đây đã chuyển dầu, giao gạo và thay lưới. Người của điện đến không làm các việc trước đó biến mất.
Buổi tối, bà chủ quán mang Ô Kê đến. Con gà vừa thấy Bảo đã lao tới túi áo hắn. Hắn đưa nó ít thóc, kiểm xem nó có làm hỏng gì ở quán không. Bà chủ nói nó chỉ đuổi theo một chiếc lá và làm đứa trẻ cười; không có khoản nào phải trả.
Bảo mở tờ giấy trắng Mộc để lại, thêm một dòng dưới chữ *Cửa gần biển*: *Có người trực, có người dự phòng, còn cần người biết đo.* Hắn chưa viết tên riêng. Dưới cùng, hắn ghi số tiền đường còn lại sau bát cơm thứ hai.
Ngoài hiên, tấm đồng đã đặt theo hướng cũ. Bà Liên nhận ca, nhìn bát, đọc số cho Vĩnh ghi. Ninh ngồi cạnh hộp dụng cụ, chờ lượt đo tiếp theo. Bảo gấp giấy, cất vào túi trước khi Ô Kê kịp mổ mép.