Chương 158: Dòng Bị Bỏ Trống
Sáng hôm sau, người trực điểm giao mang tờ bảng mẫu trở lại.
Bà đặt nó lên bàn kho. Một góc giấy bị thấm nước, chữ ở hàng cuối nhòe thành hai vệt đen. Tạ Tiểu Bảo đứng bên kia bàn, nhìn vệt đen rồi nhìn bà.
“Mái dột?”
“Không. Ta làm đổ.”
Bảo ngẩn ra. Người trực lật mặt sau tờ giấy. Ở đó có một vết bùn hình nửa bàn tay.
“Lúc đổi ca, người tới sau đặt bình xuống cạnh bảng. Ta với tay lấy phiếu, va vào bình.”
“Vậy chuyển bảng lên cao hơn?”
“Có thể. Nhưng nếu không với tới thì ta cũng phải đem xuống để ghi.”
Người tiếp vận lấy một tờ giấy khô đặt cạnh đó. Hai người hỏi bà đã thử ghi những gì. Bà chỉ vào ba hàng còn đọc được: một lượt nhận nước, một lượt lấy dùng và số còn lúc giao ca. Đến hàng nhòe, bà không tự đọc lại con số; bà lấy phiếu trong ống tre, đối với người đi cùng trước khi nói.
“Lượt này là nước chuyển cho người làm ở ngoài đường. Hai bình nhỏ, không phải hai bình chuẩn.”
Bảo nhìn ô ghi đơn vị. Họ đã để trống cho người trực tự viết, nhưng chỗ trống vẫn quá hẹp. Chữ *nhỏ* chen lên đường kẻ, bị nước làm nhòe mất.
“Con kẻ rộng thêm,” hắn nói.
“Rộng rồi thì bớt được hàng.”
“Dùng tờ to hơn.”
“Ta chỉ có tờ cỡ này.”
Bảo cầm tờ giấy lên. Hắn nhớ hôm qua mình từng đề nghị tìm một chỗ không dột như thể chỉ cần nói là có. Bây giờ hắn không nói nữa; hắn lấy than, thử thu hẹp ô tên và để chỗ cho loại bình. Người trực xem, bảo tên vẫn phải đủ chỗ vì người đổi ca cần biết hỏi ai.
Họ loay hoay tới khi người coi kho đi qua, đặt một miếng gỗ mỏng xuống bàn. Trên đó có hai khe để cài giấy.
“Ta tìm được cái này trong đống đồ cũ. Treo lên được, mang xuống cũng được. Nhưng phải thay dây.”
Người trực thử cài tờ bảng. Miếng gỗ dài hơn giấy một đoạn; bà đề nghị lấy phần đó buộc mẩu than và một miếng vải lau tay. Người coi kho đồng ý cho mượn, dặn nếu gỗ nứt thì mang về, đừng buộc thêm vật nặng.
Bảo hỏi bà định treo ở đâu. Bà nói chưa biết chắc, phải thử tại chỗ. Lần này hắn hỏi tiếp có thể đi cùng để xem không.
“Ngươi đi được đường ấy?”
“Con phải hỏi y vụ. Đi một lượt bao lâu?”
Bà cho hắn biết quãng đường thường đi, chỗ nào có thể ngồi nghỉ và giờ xe quay về dự kiến. Hắn mang những điều ấy tới hỏi Dư An. Sau khi xem lại chân, Dư An cho hắn đi cùng xe tới điểm giao, dặn không nhảy xuống khi xe chưa dừng, không khiêng thùng và phải báo ngay nếu đau tăng.
Hổ nghe chuyện lúc đang trả dây ở sân. Hắn muốn đi, nhưng đã nhận việc ở ngoại viện buổi chiều. Bảo hỏi hắn có đổi ca được không; Hổ nghĩ một lúc, lắc đầu.
“Người thay ta hôm trước đã đổi hai lần. Hôm nay tới lượt ta.”
“Vậy ta kể khi về.”
“Nhớ hỏi nếu quên ghi thì ai đối lại.”
Bảo vỗ túi áo, nơi có mẩu giấy ghi câu hỏi ấy. Hắn ăn bát cháo sáng, mua thêm một cái bánh bằng một đồng của mình. Đồng còn lại được hắn buộc trong góc khăn, cất sâu vào túi.
Xe đi cùng người trực, người đánh xe và mấy kiện đồ đã được buộc. Bảo ngồi phía trong, giữ tấm gỗ trên đùi. Người đánh xe chỉ cho hắn chỗ bám khi đường xóc. Bảo không cầm thay dây cương, cũng không nhận trông hàng; việc của hắn là mang bảng và tự giữ mình khỏi ngã.
Qua một đoạn đường lồi lõm, tấm gỗ xô vào đầu gối. Hắn nhích nó sang bên, kẹp giữa hai bàn tay. Tới điểm giao, hắn đợi xe dừng hẳn rồi mới xuống, vịn thành xe như lời Dư An dặn.
Mùi đất ẩm và nước đun nóng lẫn vào nhau dưới mái. Người trực đưa hắn tới mảng vách đã nói. Một người đang đứng đó ghi vào phiếu, thấy bà về thì nhường chỗ. Bên cạnh là hai thùng, một bình nhỏ và một chiếc gáo để ngửa.
“Chỗ này không vướng lúc khiêng cáng?” Bảo hỏi.
Người kia chỉ khoảng trống giữa vách và lối đi. “Nếu treo sát góc thì được. Nhưng đừng để dây lòng thòng.”
Họ thử ba vị trí. Ở chỗ thứ nhất, ánh sáng yếu; chỗ thứ hai gần bình nước; chỗ cuối khô và đủ sáng, nhưng người thấp phải kiễng chân. Bảo định đề nghị kê một hòn đá. Người trực lấy tấm gỗ xuống, chỉ hai khe cài giấy.
“Ta treo vừa tầm nhìn. Khi ghi thì nhấc xuống.”
“Lúc bận có quên treo lại không?”
“Có thể. Ta buộc dây ngắn để bảng không bị đem sang bàn khác.”
Bà thử buộc vào một chiếc móc có sẵn. Dây đủ dài để hạ bảng xuống mặt bàn gần vách, nhưng không chạm lối đi. Người trực ca hiện tại đồng ý thử, tự tay ghi tên mình vào đầu hàng mới. Bảo đứng cạnh, đọc theo từng mục, rồi thấy bà để trống cột cuối.
“Còn lại bao nhiêu?” hắn hỏi.
“Chưa đối xong.”
“Nếu người sau nhìn thấy chỗ trống?”
“Họ hỏi ta. Nếu ta đã đi, họ phải đếm lại với người nhận ca.”
Hắn kể câu hỏi của Hổ: nếu quên ghi thì ai đối. Bà gọi người vừa giao ca tới. Hai người cùng chỉ từng đồ chứa, xem phiếu và lượng nước trong thùng. Một bình đã được đưa đi từ trước, nhưng lúc giao ca người cầm bình đang giúp chuyển đồ, chưa kịp báo lượng còn lại.
Người trực không điền đại. Bà ghi bên lề: *một bình đang dùng, chờ hỏi*. Sau đó bà nhờ người tới khu ngoài hỏi, còn mình tiếp tục việc tại điểm giao.
Bảo nhìn một dòng có chữ mà không có số. Hôm qua hắn đã muốn mọi ô đều đầy. Bây giờ nếu ghi cả bình ấy như còn nguyên, người sau có thể đem phần nước chưa biết đi chia lần nữa.
Người được nhờ trở lại trước bữa trưa, báo bình đã dùng gần hết; người cầm bình mang về cùng phần còn lại. Hai người trực đong số nước ấy bằng cùng một đồ đo, đối với phiếu và điền lượng còn vào bảng. Bên cạnh lời ghi chờ hỏi, bà thêm giờ và tên người xác nhận.
“Xong rồi?” Bảo hỏi.
“Xong dòng này. Ca sau vẫn phải đối.”
Hắn giúp giữ bảng khi bà buộc lại dây, sau đó trả chỗ cho người khác. Không có ai bảo hắn xuống khu đường hầm; người trực nói phần đường đang xử lý chỉ cho đội được phân công vào. Bảo hỏi lượng nước ghi trên bảng có bao gồm phần mang tới đội đó không. Bà chỉ hàng vừa ghi: chuyến cấp nước cho họ đi qua điểm giao, còn việc sử dụng cụ thể bên trong do người nhận ở đó theo dõi.
Người tiếp vận đã chuẩn bị suất cơm trưa cho chuyến đi. Bảo nhận phần có cơm, rau và một bát canh. Hắn ăn chiếc bánh mua buổi sáng sau cùng, giữ lại mảnh giấy gói để bọc mẩu than. Người trực chia với người đánh xe một đĩa rau; không ai phải lấy phần của Bảo.
Ăn xong, bà hỏi hắn thấy bảng còn thiếu gì. Hắn nghĩ tới chỗ trống ban nãy.
“Chỗ viết lúc chưa biết. Nếu để trống, người khác có thể tưởng quên.”
Bà lấy than viết mẫu vào lề dưới: *chờ đối — tên người giữ việc*. Chữ nhỏ nhưng rõ. Người trực ca hiện tại đọc lại, hỏi nếu không có chỗ viết thì sao. Bà đáp sẽ dùng mặt sau phiếu và đánh dấu ở dòng tương ứng; tới lúc đổi ca phải đưa cả hai mặt cho người nhận.
Bảo không nói bảng đã hoàn hảo. Trước khi lên xe về, hắn hỏi bà có muốn đổi điều gì ngay không. Bà lắc đầu, bảo phải dùng thêm mới biết. Bà giữ bảng, giữ cả tờ giấy bị nhòe hôm trước để đối với phiếu, không vứt vào bếp.
Trên đường về, đầu gối Bảo hơi căng. Hắn nói với người đánh xe, nhích chân ra chỗ rộng hơn và ngồi yên. Về tới sân, hắn ghé y vụ báo đúng như đã hứa. Dư An xem lại, bảo nghỉ, nếu đau tăng thì trở lại; hôm nay không nhận thêm việc đi lại.
Hổ tìm hắn ở bậc cửa lúc trời sắp tối. Bảo kể chuyện bình nước đang dùng và hai người trực đã đối lại. Hổ nghe xong hỏi:
“Vậy nếu cả hai đều quên?”
“Thì người tới sau phải hỏi, không biết nữa thì đếm lại.”
“Ta tưởng bảng giúp khỏi phải đếm.”
“Ta cũng tưởng vậy.”
Hổ ngồi xuống cạnh hắn. Một lúc sau, hắn lấy trong áo ra nửa cái bánh, nói phần ấy còn lại sau bữa chiều. Bảo hỏi bạn đã ăn chưa; Hổ nói đã ăn. Bảo nhận, bẻ đôi và đưa lại cho hắn một miếng. Hai người ăn hết, không ai nhắc tới giá.
Trước khi về phòng, Bảo tới khu nuôi, nhờ người coi gần đó giúp lấy nước vì hắn cần nghỉ chân. Hắn tự thay nước và đóng chốt. Ô Kê đứng trên thanh gỗ, nhìn cái bát không còn vụn bánh rồi quay sang mổ hạt kê.
Bảo về bàn, lấy mẩu giấy của Mộc ra. Hắn gạch dưới câu hỏi của Hổ, ghi thêm: *đối cùng người giao ca; chưa biết thì viết chờ*. Bên cạnh là chiếc nồi vẫn bọc vải. Hắn tháo đồng tiền khỏi góc khăn, đặt nó lên mẩu giấy.