Chương 377: Cái Muôi Không Múc Được
Tạ Tiểu Bảo mượn của bà Mạnh ba chiếc muôi.
Một chiếc bằng gỗ, một chiếc bằng sắt, chiếc còn lại là gáo tre có cán ngắn. Hắn xếp chúng trên bàn theo thứ tự dài ngắn, rồi nhìn chiếc nồi đen trong sọt. Hổ đi ngang qua, hỏi hôm nay có nấu ba nồi cháo không.
“Con muốn xem cái nào múc được phần trong nồi.”
Hổ nhìn những chiếc muôi. “Nếu múc được, cháu định đổ vào đâu?”
Bảo chưa nghĩ tới. Hắn lấy một chiếc bát sạch, đặt cạnh muôi. Rồi hắn nhớ lời bà Mạnh: chưa chia. Hắn nhìn chiếc bát, lại nhấc nó đi.
“Con muốn biết thôi, chưa lấy ra.”
Dư An nghe hai người nói, đặt chậu rau xuống. Ông bảo có thể hỏi bà trước khi thử; phần trong nồi không hiện như nước hay gạo, chưa biết chạm muôi vào có làm thay đổi nó không. Bảo thấy hợp lý, dù hắn đã rất muốn mở sọt. Hắn lau ba chiếc muôi, trả lại hai chiếc vào bếp, giữ gáo tre để hỏi bà.
Bà Mạnh ăn xong cháo mới được Dư An đưa tới bàn. Thanh Nghi lấy bản ghi hôm qua ra, đọc hai lựa chọn và điều còn chưa biết: phần trong nồi có đủ cho cửa không. Bảo đưa gáo tre, hỏi có thể dùng nó để đong mà không lấy phần ra không.
Bà nhìn cái gáo, rồi lắc đầu. Ngón tay bà chậm chạp chỉ lòng gáo, sau đó chỉ chiếc sọt.
“Gáo không múc được?” hắn hỏi.
Bà gật. Hắn đặt gáo lên bàn, thấy vừa nhẹ nhõm vừa thất vọng. Hắn sẽ không vô tình lấy phần ra, nhưng cũng mất một cách vừa nghĩ đến.
Bà đưa tay về phía tờ giấy có hai cột. Bảo trải phẳng. Bà chạm vào mẩu giấy tượng trưng cho một phần, rồi chỉ tên hắn dưới dòng *con ăn*. Bà nói từng tiếng: “Con... nghe.”
“Nghe Ô Kê?”
Bà lắc đầu, chạm vào ngực hắn. Hắn đặt tay lên ngực mình, nghe nhịp tim đập đều. Dư An nhắc hắn có thể ngồi yên một lát; nếu bà muốn nói tới hơi thở hay điều gì khác, họ sẽ hỏi sau khi bà nghỉ.
Bảo ngồi. Hắn nghe tim, nghe bụng mình vẫn muốn ăn, nghe tiếng bếp và tiếng chân Ô Kê ngoài hiên. Hắn không nghe được một con số. Hắn kể với bà những gì mình cảm thấy. Bà nhìn hắn, nói tiếp: “Cùng... nó.”
“Con và Ô Kê cùng nghe?”
Bà gật. Hắn nhớ hôm trước bà muốn con gà ở gần nồi. Nhưng hắn chưa biết phải nghe gì, cũng chưa biết hai tiếng gõ ở giếng có liên quan đến việc này không. Hắn ghi lại lời bà, không đem chiếc gáo tre chạm vào nồi.
Đến lượt nghe, Hổ và Bảo đưa Ô Kê tới giếng. Thanh Nghi, Cẩn, Tín và người chuyển tin đã nhận việc theo lịch. Bác giữ dây gàu ngồi trên ghế, bên cạnh là chiếc thùng được người nhà mang tới. Ông Thuận nói sáng nay bác đã uống nước và ăn một ít bánh; ông không biết bác còn muốn lấy nước hay nghỉ. Bảo chào bác, đặt chiếc phên cách lối đi một quãng.
Ô Kê bước ra, uống nước, đi tới viên đá. Nó gõ hai tiếng. Họ chờ, nhưng không nghe âm trầm đáp lại. Giấy từ phòng trực cũng ghi không có tiếng đáp trong lượt chờ. Bảo viết kết quả vào lịch, đưa Hổ xem; anh nhắc hắn thêm tên người chuyển tin và thời gian kết thúc.
“Gió lúc có lúc thiếu,” Bảo nói. “Nếu nó thiếu lâu hơn thì sao?”
“Ta hỏi bà và Cẩn. Trước mắt vẫn ghi, để người tới lượt sau biết.”
Bảo nhìn bác giữ dây. Chỉ một tiếng không tới, mọi thứ trên sân chưa thay đổi rõ, nhưng hắn đã thấy tay mình muốn cầm nồi và chạy ra giếng. Hắn đặt tay lên đầu gối, chờ Ô Kê đi về phía máng. Con gà không gõ nữa.
Khi Thanh Nghi và Cẩn trở lại, nàng mang bản ghi ngọn đèn: trong một lượt cát, lửa nghiêng về kệ một lần rồi đứng thẳng, không tắt. Cẩn đề nghị đưa cả hai bản tới cho bà Mạnh. Trên đường, Bảo hỏi ông có từng thấy người ta đong thứ không nhìn thấy không.
“Ta từng đo độ nghiêng của nền bằng nước, đo khoảng rỗng bằng âm thanh,” người thợ đáp. “Nhưng phải biết thứ mình đo liên hệ thế nào với dấu mình nhìn. Một tiếng gõ không nói cho ta mọi thứ dưới đất.”
“Vậy nếu con nghe bụng mình đói, có thể biết phần trong nồi lớn bao nhiêu không?”
“Ta không biết. Nhưng bụng cháu đang đói, đó là điều cháu biết. Đừng biến nó thành một con số khi chưa có cách.”
Về nhà, họ báo lượt nghe thiếu tiếng đáp và lửa vẫn cháy. Bà Mạnh nhìn hàng ghi, rồi nhìn Ô Kê. Con gà được đặt dưới mái gần cửa, đang uống nước. Bảo hỏi bà có muốn hắn và nó nghe cùng chiếc nồi không. Bà gật.
Hổ giúp hắn lấy nồi khỏi sọt. Nắp để bên cạnh. Hắn ngồi trước lòng nồi trống, Ô Kê đứng trong lồng mở trên nền cạnh ghế. Bà Mạnh nhìn cả hai, giơ tay chỉ vào quai nồi.
“Con cầm quai?”
Bà gật. Hắn đặt hai tay lên hai quai như lúc mang nồi trên đường, nhưng không nhấc. Nó mát và nặng. Ô Kê bước tới, đứng giữa hắn và chiếc lồng. Dư An đặt máng nước gần đó, còn Thanh Nghi dọn giấy khỏi mép bàn.
“Con phải làm gì nữa?” Bảo hỏi.
Bà chạm tay lên ngực mình, rồi đưa hai ngón tay cách nhau một khoảng. Hắn thử hít vào, thở ra. Không có gì hiện trong nồi. Ô Kê ngẩng đầu, kêu một tiếng khàn. Bảo chờ tiếng lách tách hôm trước, nhưng không nghe.
“Con chỉ thấy đói,” hắn nói.
Bà nhìn hắn. Một lúc sau bà nói: “Nói.”
“Nói với ai?”
Bà chỉ vào hắn, rồi vào nồi. Hắn thấy hơi ngượng, nhưng vẫn nói rõ: “Ta là Tạ Tiểu Bảo. Trong nồi có phần của ta. Ta muốn biết nó đủ bao nhiêu, chưa lấy ra.”
Ô Kê gõ mỏ vào chân ghế. Không khí vẫn yên. Bảo nhìn Dư An; ông chỉ gật đầu, không thúc hắn làm thêm. Hắn giữ quai nồi, nói điều thật nhất lúc này:
“Ta muốn no một lần. Ta cũng muốn bà Mạnh được nghỉ và mọi người trong làng đi lại như trước. Ta chưa biết phần của ta có làm được không.”
Một giọt nước rơi từ mép tay áo hắn xuống thành nồi. Hắn vừa rửa tay trước khi ngồi; giọt nước đọng trên ngón tay nay chảy qua quai. Nó không biến mất, chỉ trượt xuống bàn. Hổ đưa khăn, Bảo lau, rồi bật cười vì đã tưởng mình thấy điều gì lạ.
“Đó là nước trên tay con,” hắn nói.
“Ta cũng thấy,” Hổ đáp.
Bà Mạnh nhìn hai người, khóe môi nhích lên rất nhẹ. Rồi bà chỉ vào miệng nồi, nói: “Đợi.”
Họ chờ một lượt đồng hồ cát của Cẩn, đặt trên bàn bên cạnh. Hắn vẫn giữ quai, không nhấc nồi. Giữa lượt, Ô Kê phát tiếng khàn lần nữa. Lần này Bảo thấy lòng bàn tay ấm lên, nhưng quai nồi vẫn mát; có lẽ vì hắn nắm lâu. Hắn nói ra điều mình thấy, để mọi người cùng biết.
“Con nóng tay, không chắc vì nồi hay vì con giữ chặt.”
Dư An đề nghị hắn buông tay nghỉ. Bà Mạnh nhìn chiếc đồng hồ, khẽ lắc đầu. Ông hỏi bà có phải muốn đợi hết lượt cát; bà gật. Bảo nới lỏng tay, giữ quai nhẹ hơn. Khi hạt cát cuối rơi, bà chỉ vào lòng nồi.
Dưới đáy đen, một đường sáng mảnh hiện lên rồi tắt.
Bảo cúi sát. Hắn tưởng là ánh sáng ngoài cửa phản vào nồi, nhưng trời có mây và tấm rèm che nửa cửa. Thanh Nghi đứng phía bên kia cũng thấy một vệt; Hổ không kịp nhìn. Ô Kê đứng yên, đầu hướng vào lòng nồi.
“Con có thể nhấc nồi để xem rõ không?” Bảo hỏi.
Bà Mạnh lắc đầu. “Chưa.”
Hắn để nồi nguyên vị trí. Thanh Nghi vẽ hình lòng nồi, đánh dấu nơi mình thấy vệt; Bảo vẽ trên giấy khác. Hai nét không trùng hoàn toàn. Cả hai đều thấy ánh sáng mảnh, nhưng không thể nói nó là vạch đo hay chỉ là một phản chiếu.
Bà nhìn hai bản vẽ, rồi chỉ tờ của Bảo. Bà nói: “Lại.”
“Lại một lượt cát?” hắn hỏi.
Bà gật. Dư An nhắc bà đã ngồi lâu; ông kê gối sau lưng, hỏi có muốn nghỉ trước không. Bà nhìn cái nồi, sau một lúc khẽ gật. Bảo buông quai hẳn, Hổ đưa Ô Kê về hiên uống nước. Không ai thay đổi vị trí nồi trên bàn; họ dọn bát cháo và giấy khỏi mép, để bà nghỉ một lát.
Bảo ra sân với con gà. Nó mổ thêm thóc, đi quanh cái rổ úp bên tường. Hắn ngồi xuống, thấy bàn tay vẫn còn cảm giác ấm. Nếu vệt sáng là dấu của phần trong nồi, hắn rất muốn thấy nó lần nữa. Nhưng ngay cả khi nhìn rõ một vạch, hắn vẫn cần biết nó có nghĩa gì: đủ cho cửa, đủ cho hắn no, hay chỉ là một vết trên đáy.
Hổ mang cho hắn miếng khoai luộc. Hắn ăn, hỏi anh có thấy ánh sáng không. Anh lắc đầu.
“Ta nhìn Ô Kê lúc ấy. Cháu và Thanh Nghi thấy, cứ ghi như thế.”
“Nếu lần sau anh thấy mà con không thấy?”
“Ta ghi tên ta.”
Bảo cười, nhưng câu trả lời làm hắn yên tâm. Hắn không cần tự làm một mình để chứng minh mình có phần trong nồi. Hổ có thể ngồi cạnh; Thanh Nghi có thể nhìn và ghi; Dư An có thể chăm bà. Còn việc chọn dùng phần ấy hay ăn nó vẫn là việc hắn phải tự quyết.
Sau khi bà nghỉ, cả nhóm trở lại bàn. Bảo đặt tay lên quai theo cách cũ, Ô Kê ở gần, Cẩn lật đồng hồ cát. Hắn nói tên mình và nói chưa chia. Không ai đòi con gà kêu; nó đứng yên một lúc rồi đi tới bát nước.
Cát chảy hết. Không có vệt sáng nào họ chắc đã thấy. Bảo thấy thất vọng, còn Thanh Nghi nhắc lần đầu chỉ xuất hiện cuối lượt. Cẩn đề nghị đợi thêm một lượt nữa, nhưng bà Mạnh đưa tay ra hiệu dừng. Mọi người nghe theo.
Bà chỉ tờ giấy Bảo vẽ, rồi nói: “Không... múc.”
Hắn nhìn chiếc gáo tre đã trả vào bếp. “Phải nghe và nhìn, không múc ra?”
Bà khẽ gật. Nàng Thanh Nghi ghi lời xác nhận cùng kết quả hai lượt: một vệt sáng hai người thấy, lượt sau chưa thấy. Bảo cất nồi và nắp vào sọt sau khi kể lại cho bà. Hắn không gọi hai lượt ấy là đã đo xong.
Tối đến, hắn lấy tờ hai cột, viết thêm ở giữa: *Một phần; chưa biết đủ cho cửa. Có thể nhìn thấy một vệt khi chờ, cần hiểu dấu ấy.* Hắn để mẩu giấy vẫn nằm giữa hai lựa chọn.
Trước khi ngủ, hắn ra hiên. Ô Kê đã ăn, máng nước còn đầy. Hắn nhớ mình từng cầm gáo với ý định múc một câu trả lời ra khỏi nồi. Hôm nay cái gáo chưa được dùng; thay vào đó, hắn đã phải ngồi yên, nói rõ mình muốn gì và chờ tới khi cát chảy hết.
Hắn vẫn đói. Vệt sáng cũng chưa cho hắn một con số. Nhưng lần đầu hắn đã thấy có thể tìm hiểu phần của mình mà không ăn hay chia nó ngay. Hắn đặt một tay lên thành lồng, nghe tiếng con gà thở trước khi trở vào nhà.