Chương 195: Phần Của Người Đến Sau
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo nhận lương người ghi cửa lần đầu.
Người phụ trách đưa bảng đối công và tiền theo kỳ đã ghi trong giấy nhận việc. Bảo đếm tại bàn, rồi chỉ những lượt hỗ trợ cũ chưa được tính vào kỳ lương. Người phụ trách mở bảng ca, đối từng ngày và trả phần còn lại riêng. Hắn đếm hai khoản, cất vào hai góc khăn khác nhau.
Lâm Hổ nhìn nút khăn phồng lên. “Hôm nay ngươi giàu.”
“Ta phải mua bánh trước mới biết còn bao nhiêu.”
Bảo mua hai chiếc bằng tiền mới nhận, ăn một chiếc với bát cháo, đưa Hổ chiếc còn lại. Hắn nói đây là bánh mời, không phải tiền công Hổ trông Ô Kê. Hổ nhận rồi hỏi có phải người giàu ngày nào cũng ăn hai cái không.
“Ta chưa biết. Hôm nay ta ăn một.”
“Vậy mai ngươi có thể thử.”
Sau bữa sáng, họ tới khu nuôi. Người coi đã chuẩn bị kê; Bảo thay nước, kiểm chốt và hỏi Hổ hôm trước bị mổ vào dây áo có rách không. Hổ chìa vạt áo. Đường chỉ chỉ bị kéo lệch, hắn đã khâu lại; Ô Kê đứng trên thanh gỗ, không nhìn tới hai người.
Tại phòng Hứa Đồng, người trực trước bàn giao một lời nhắn từ ông Từ: bà lão dưới núi đồng ý kể chuyện bếp cũ vào ngày tới, nếu không mưa. Bà không hứa đọc được chữ trên bia. Bảo ghi giờ nhận lời và người sẽ đưa đoàn tới, rồi nhận ca.
Thanh Nghi ghé qua sau khi xem lại ở y vụ. Dư An cho nàng làm việc gần; chuyến núi phải xem lại khi có đường và thời gian cụ thể. Nàng đặt bản chép bia lên bàn, chỉ cụm *giữ phần*.
“Nếu đó là phần ăn, phải có người mang tới hoặc người nấu,” nàng nói.
“Cũng phải có người tới nhận,” Bảo đáp.
“Có thể. Nhưng ta chưa biết bia ghi ai.”
Họ đặt cạnh đó bản đo khoảng cách từ bệ tới bia. Thanh Nghi nói người biết chữ đề nghị nhìn lại nét ngang trong ánh sáng khác; ông không muốn kết luận đó là gạch tên. Bảo hỏi có thể dùng một tấm vải che nắng để nhìn nét không. Hứa Đồng bảo hỏi người trông đường về cách làm; không cần chạm bia.
Giữa ca, một người từ nhà ăn tới báo phần ăn của đội dọn sân bị thiếu một bát. Bảo hỏi người ấy đã đối số người nhận chưa. Bà nói có thêm một người thay ca, nhưng tên chưa được chuyển cho bếp. Hứa Đồng gọi người phụ trách đội, không bảo bếp tự chia bớt các phần đã hẹn.
Người phụ trách tới cùng người thay. Họ đối lại số người, xác nhận người thay chưa nhận bữa. Nhà ăn còn một phần dự phòng; bà đưa phần ấy tới đội, còn người phụ trách sẽ bổ sung tên vào danh sách. Bảo ghi giờ báo và giờ người nhận được gọi, không ghi người ấy đã ăn khi chưa thấy.
Hổ vừa tới, nghe chuyện liền hỏi: “Nếu phần dự phòng cũng hết?”
“Bếp sẽ nói còn gì,” người phụ trách đáp. “Ta phải cùng họ tìm cách, không bắt người tới sau ngồi nhìn.”
Bảo nhớ chiếc bệ và câu hỏi trên bia. Hắn muốn hỏi liệu ngày xưa cũng có người tới sau không, nhưng người phụ trách đang cần về sân. Hắn để câu hỏi lại trong giấy riêng, rồi bàn giao ca đúng giờ.
Bữa trưa có cơm, rau và canh. Thanh Nghi kể Dư An sẽ gặp lại hai người sau khi có giờ đi núi. Hổ hỏi bà lão dưới chân núi biết nấu món gì. Nàng nói ông Từ mới chuyển lời hẹn, chưa hỏi chuyện bếp.
“Vậy ta có thể đi không?” Hổ hỏi.
“Ngươi được mời nếu bà đồng ý và giờ luyện cho phép,” Bảo đáp.
“Lần này ta không lên sân. Ta có thể đợi dưới.”
Hứa Đồng nghe, bảo ông Từ sẽ hỏi bà số người có thể tới. Hổ không tự ghi tên mình trước câu trả lời. Hắn ăn xong, giúp mang khay về bếp, rồi tới sân theo giờ.
Chiều, Lương tới cùng người biết chữ. Ông đã tìm được một bản chép cũ trong giấy hội, chỉ có một phần dòng trên bia và tên vùng, không có hình tấm bia. Người giữ giấy cho phép ông mang bản sao tới đối, còn bản gốc ở chỗ khác.
Người biết chữ đặt bản sao cạnh bản Bảo và Thanh Nghi chép. Cụm *giữ phần* xuất hiện ở cùng vị trí tương đối, nhưng bản cũ ghi tiếp một chữ có thể đọc là *sau*. Trên bia hiện nay, chỗ ấy chỉ còn một nét ngắn.
“Giữ phần sau?” Bảo hỏi.
“Có thể là ‘phần sau’, cũng có thể có chữ mất ở giữa,” ông đáp. “Bản sao không cho biết phần ấy là gì.”
Hứa Đồng hỏi ai chép bản cũ, khi nào. Lương chỉ một tên ở cuối giấy, nói chưa biết người ấy còn sống hay không. Ông đã nhờ người trong hội tìm sổ giao nhận của bản gốc. Bảo không gọi đó là lời của người trên bia; hắn ghi *bản sao của hội đọc được chữ sau*, kèm tên Lương và người biết chữ đã đối.
Thanh Nghi hỏi bản sao có nhắc chiếc bệ không. Không có. Có một dòng về lối nước, nhưng chữ sau bị nhòe. Bảo nhớ vũng nước và khe đá; hắn hỏi bản ấy có thể do người từng ở sân viết không. Lương nói chưa biết, phải tìm người chép hoặc nguồn bản gốc.
Người trẻ của hội đến cuối buổi, hỏi Bảo có nhận việc đối tuyến nữa không. Hắn nói đang có ca và một lời hẹn dưới chân núi, chưa biết giờ rảnh. Ông đồng ý để lại mô tả việc, không hỏi chiếc nồi. Bảo nhận giấy, đặt riêng với bản chép bia.
Trước khi đi, Lương hỏi: “Ngươi từng nói con số trên hai bản chưa chắc cùng lượng. Với hai bản chữ này, ngươi sẽ làm gì?”
“Con giữ cả hai. Một bản là điều chúng con thấy, một bản là điều người khác chép trước.”
“Rồi nếu muốn viết thành một câu?”
“Con phải biết chữ nào thật sự ở trên bia, chữ nào chỉ còn trên giấy.”
Người biết chữ gật đầu. Ông đề nghị ngày gặp bà lão hãy hỏi tên cũ của sân, người từng giữ bệ và lối nước; đừng đưa sẵn chữ *phần ăn* để bà phải chọn theo câu hỏi. Bảo viết ba câu, đọc cho Thanh Nghi nghe. Nàng sửa câu thứ nhất để bà có thể nói tên bà nhớ, kể cả tên khác với sơ đồ của hội.
Tới tối, Hổ báo người phụ trách đội dọn sân đã xác nhận người thay nhận phần ăn. Hắn đưa mảnh giấy tới Hứa Đồng; Bảo đã hết ca, chỉ nghe ông báo đã nhận. Họ ăn cơm với rau và một bát canh. Bảo không mua thêm bánh, tiền còn lại là phần sau hai chiếc sáng.
Trước khi về, hắn thay nước cho Ô Kê. Người coi khu nuôi hỏi ngày đi núi đã chắc chưa; Bảo nói mới có lời hẹn gặp bà dưới chân núi, còn tùy mưa. Ông bảo khi có giờ hãy báo, không phải nhờ giữ trước một ngày chưa định.
Trong phòng, chiếc nồi vẫn bọc vải. Bảo đặt bản chép của mình cạnh câu được đọc từ bản sao hội. Hắn không mở nồi để tìm chữ tương ứng. Trên giấy, chữ *sau* nằm cách cụm *giữ phần* một khoảng trống nhỏ.