Chương 267: Hai Lối Đến Bến
Sáng ở trạm, người giữ hàng đem ra một tấm ván có vẽ hai đường bằng than.
“Đường thấp đi sát nước. Đường cao vòng qua sườn đồi,” ông nói. “Hôm qua người của ta đi đường cao về, không gặp chỗ sụt. Đường thấp ta chưa hỏi được ai đi hết từ đầu đến cuối.”
Tạ Tiểu Bảo nhìn hai nét. Đường thấp ngắn hơn trên tấm ván, nhưng có một đoạn được vẽ bằng những chấm rời. Người giữ hàng giải thích đó là chỗ ông không biết sau mưa thay đổi thế nào, không phải đoạn chắc chắn bị chặn.
“Đường cao đi bộ mất bao lâu ạ?”
“Người mang ít đồ có thể đến bến trước tối. Các vị có la và lồng, còn tùy lúc nghỉ. Giữa đường có nhà bán nước, hỏi được chỗ trú nếu cần.”
Thanh Nghi hỏi người đi hôm qua có dắt gia súc không. Ông đáp có một con lừa chở hàng, đi cùng hai người, và không qua đoạn sát nước. Ông không biết con lừa ấy có tải nặng hơn Xám không.
Bảo lấy sổ, vẽ lại đường cao, ghi ngày người giữ hàng nghe tin và chỗ bán nước. Hắn không xóa đường thấp; hắn đặt dấu hỏi cạnh đoạn chưa rõ. Dư An nhìn trời, thấy mây mỏng nhưng không có dấu hiệu mưa ngay. Cả nhóm chọn đường cao.
Họ thanh toán tiền nghỉ và nước, nhận lại Xám. Người giữ trạm đã cho con la ăn phần cỏ của Bảo mang tới; nước trong máng còn sạch. Bảo kiểm chỗ đệm như thường lệ, Hổ buộc lại sọt. Ô Kê không chịu vào lồng ngay. Nó đứng ở cửa, thò đầu mổ nắm thóc rồi chạy ra sau chân Thanh Nghi.
“Có lẽ nó muốn đi đường cao bằng chân,” Hổ nói.
“Anh thử đi theo nó xem.”
Anh vừa cúi xuống, Ô Kê đã chạy vòng quanh chiếc sọt. Bảo đặt bát thóc vào trong lồng, ngồi xa hơn một chút. Con gà nhìn hắn, nhìn bát, rồi bước vào. Hắn khép cửa, luồn then và buộc thêm nút dây. Lần này hắn kéo thử hai lượt trước khi đưa lồng lên.
Qua khỏi trạm, đường bắt đầu lên dốc. Xám bước chậm, hơi thở đều. Bảo giữ dây vừa đủ dài, không kéo trước. Đến một tảng đá nhô ra, hắn định dắt bên trái; con la lại chọn bên phải, nơi có nền đất rộng hơn. Hắn đi theo, cảm thấy chiếc sọt không bị quệt.
“Lần này nó chọn đúng,” hắn nói.
“Ngươi vẫn phải nhìn chỗ phía trước,” Hổ đáp. “Nó thấy tảng đá, không thấy tờ giấy ngươi cất trong sọt sẽ bị cành cây quét.”
Thanh Nghi đi phía lồng, nhấc một cành thấp. Cả nhóm qua được, rồi dừng lại cho cành trở về chỗ cũ. Dư An kiểm bình nước, nói họ cần lấy thêm ở nhà bán nước trước khi đi hết dốc.
Gần trưa, họ tới một căn nhà có mái hiên rộng. Bên ngoài treo một ấm nước bằng đồng, bên cạnh là giỏ bánh. Người bán đưa giá cho nước nóng, nước mát và từng loại bánh. Bảo mua nước mát để đổ vào bình, hỏi thêm có cỏ cho la không. Bà nói nhà bên kia sườn có bán, nhưng hôm nay không biết đã phơi xong chưa.
Trong lúc chờ nước, hắn nghe tiếng đập gỗ ở phía sau nhà. Một người đàn ông đang sửa chiếc gánh, bên cạnh có hai sọt trống. Dư An nhận ra người này từng đến trạm nhờ xem chân sau một chuyến đi. Ông hỏi vết đau đã đỡ chưa; người ấy nói đỡ hơn, vẫn tránh mang quá nặng. Bảo không hỏi tên khi hai người còn nói chuyện.
Lúc người ấy nghỉ tay, Dư An giới thiệu Bảo và nhóm bạn đang đi về phía bến. Ông ta cho biết vừa đi từ bến lên hôm trước, theo đường cao. Ông chưa vào Lạc Kê, nhưng có gặp người từ phía làng ra đổi hàng ở chợ bến.
Bảo tiến lại gần. “Chú có biết bà Mạnh ở làng không?”
“Ta không biết bà. Người đổi hàng cũng không nói tên người trong làng.”
Hắn lấy mảnh giấy tên người bán muối. Người ấy nhận ra cái tên, nói bà bán ở sát mái nghỉ như họ đã nghe. Ông không biết lá thư nào, nhưng kể người đổi hàng hôm trước có một túi giấy buộc bằng chỉ đỏ. Bảo nhìn sợi dây trên túi mình; hắn đã buộc thư bằng chỉ, nhưng không nhớ người bán muối có bọc thêm gì không.
“Cháu không thể chắc đó là thư của cháu,” hắn nói.
“Ta cũng không biết.” Người đàn ông đặt cây đục xuống. “Đến bến, cậu hỏi bà ấy là rõ hơn.”
Ông chỉ cho họ đường còn lại: qua hai khúc quanh, tới một cây đa có bảng chỉ xuống bến. Sau khúc quanh thứ hai, có đoạn đá lởm chởm; nên tháo bớt đồ nếu con la không tìm được chỗ đặt chân. Ông chỉ kể đường đã đi hôm trước, không nhận dẫn họ đến bến.
Bảo chép lại, rồi hỏi mua cỏ ở nhà bên kia sườn. Người bán nước nói chồng bà đang mang cỏ từ nhà ấy về, có thể chia cho họ một bó. Họ chờ ông về, xem cỏ rồi mua. Hổ giúp buộc bó cỏ phía trên sọt, để lồng Ô Kê không bị che kín.
Họ chia bánh mua ở hiên nhà. Bảo giữ lại một phần cho buổi chiều, nhưng khi thấy Xám cúi đầu tìm cỏ, hắn muốn cho nó ăn ngay. Hổ bảo cho nghỉ trước, tháo tải rồi mới đưa cỏ. Hai người làm theo. Con la ăn được một lúc, uống nước, sau đó mới để họ buộc lại đồ.
Khúc quanh đầu tiên dẫn lên một đoạn đất đỏ. Bảo đi trước vài bước, nhận ra con đường lúc rời làng có một màu đất giống thế. Hắn định nói đây là đường cũ, nhưng nhìn kỹ lại thấy bên cạnh có vách đá mà hắn không nhớ.
“Con không chắc,” hắn nói với Thanh Nghi.
“Không chắc điều gì?”
“Con tưởng mình từng đi qua. Nhưng đoạn con nhớ có cây to, không có vách này.”
“Có thể cây đã mất, cũng có thể là nơi khác.” Nàng không nhận thay hắn. “Đi tiếp xem còn chỗ nào ngươi nhận ra.”
Ở khúc quanh thứ hai, đá nằm rải rác trên đường. Xám bước chậm, nhấc chân qua từng chỗ. Một tảng đá nhỏ lăn xuống phía ngoài khi Hổ đi qua. Anh gọi mọi người dừng, rồi nhặt nó đặt sát sườn đất, chừa lối cho con la. Bảo không kéo Xám qua ngay; hắn cùng Dư An xem khoảng đất trước mặt, chọn chỗ không có đá rời.
Ô Kê trong lồng kêu lên khi sọt nghiêng. Thanh Nghi giữ khoảng cách, nhắc Bảo dừng ở nơi bằng phẳng để kiểm lồng. Hắn mở cửa cho nó uống nước, nhưng không thả xuống vì bên ngoài là dốc. Con gà mổ vào bát hai lần, uống xong quay đầu vào trong. Hắn kiểm then và buộc lại.
Qua đoạn đá, họ thấy cây đa ở xa. Bên dưới có tấm bảng, chữ đã phai một phần. Người đàn ông sửa gánh nói có bảng chỉ xuống bến, nhưng bảng trước mặt họ nghiêng, một đầu mũi tên gãy mất. Một lối dốc xuống trái, lối kia đi tiếp sang phải.
Bảo định chọn lối xuống. Hổ chỉ những dấu bánh xe mới ở lối phải. Thanh Nghi nhìn mặt đất, thấy lối trái hẹp và có dấu chân người, không thấy dấu gia súc gần đây. Cả hai đều có thể dẫn tới một nơi nào đó; chỉ nhìn bảng gãy chưa đủ để biết.
Họ đợi dưới gốc đa. Một lúc sau, hai người gánh hàng đi lên từ lối phải. Bảo hỏi bến và chỉ tên người bán muối. Một người đáp lối phải đi đến bến hàng; lối trái xuống một bãi giặt, không có đường xe. Ông đã đi lối phải sáng nay, đoạn cuối còn vũng nước nhưng có chỗ tránh.
Bảo cảm ơn, ghi lời ông. Hắn nhìn tấm bảng gãy. Nếu chỉ theo mũi tên còn lại, có thể họ đã xuống bãi giặt rồi phải quay lên. Hắn nghĩ đến những người khác đi sau; Thanh Nghi nhờ một người gánh hàng báo người giữ trạm về tấm bảng khi có dịp. Ông nhận lời, nói hôm nay chưa về trạm nhưng ngày mai sẽ đi qua.
Đường xuống bến thoai thoải. Xám đi chậm vì tải dồn về trước; Hổ kiểm lại dây, Bảo giữ khoảng cách để nó tự đặt chân. Gần cuối dốc, họ nghe tiếng người gọi giá và tiếng mái chèo chạm mạn thuyền. Bến còn sau một hàng nhà, chưa nhìn thấy sạp muối.
Bảo muốn chạy lên trước. Hắn đã chờ tin lá thư qua nhiều người, giờ chỉ còn một quãng ngắn. Nhưng Xám đang dừng trước vũng nước, Ô Kê cựa trong lồng, còn đồ trên lưng phải tháo ở chỗ nghỉ. Hắn nhìn Hổ; anh nhận dây dẫn.
“Ta đưa Xám tới mái nghỉ với Thanh Nghi,” Hổ nói. “Ngươi đi hỏi cũng được. Nhớ quay lại nói cho chúng ta biết.”
Bảo không chạy ngay. Hắn hỏi người bên đường mái nghỉ ở đâu, rồi đi cùng cả nhóm đến nơi. Người trông mái nhận giữ Xám sau khi hai bên bàn giá. Họ tháo sọt, đặt gói nồi vào góc khô; Dư An ở lại cùng đồ, còn Thanh Nghi đi với Bảo đến quầy muối.
Quầy nằm sát một bức tường thấp. Trên bàn có cân, túi giấy và mấy hũ muối. Một người phụ nữ đang bán hàng cho khách. Bảo đứng chờ, tay nắm mảnh giấy ghi tên bà. Khi người khách đi, bà nhìn hắn:
“Cậu cần mua bao nhiêu?”
Bảo đặt mảnh giấy lên bàn. “Cháu là Tạ Tiểu Bảo. Chú Sâm đã nhờ bà giữ một lá thư gửi bà Mạnh ở Lạc Kê.”
Bà nhìn tên hắn, rồi cúi mở chiếc hộp dưới quầy. Bảo nghe tiếng giấy sột soạt. Hắn không biết bà đang lấy thư trả lại hay một lời nhắn; Thanh Nghi đứng cạnh, giữ chiếc túi để khỏi va vào bàn cân.
Bà lấy ra một mảnh giấy gấp nhỏ, đặt trước mặt hắn. Ở mép giấy có dấu buộc bằng chỉ đỏ.