Chương 289: Người Giữ Chìa Khóa
Đến chỗ đường bị khoét, Lâm Hổ bảo mọi người dừng lại.
Dấu chân hôm qua vẫn còn, nhưng giữa chúng có thêm những vệt bánh xe kéo nghiêng và mấy hòn đá bị xê dịch. Phía ngoài, rãnh sâu đọng nước đục. Tạ Tiểu Bảo đứng lùi sau Xám, nhìn mặt đất hồi lâu. Cùng một đoạn đường, đi ngược lại trông khác hẳn; chỗ vách núi hôm trước ở bên phải, giờ đã sang bên trái.
Hổ tháo tải, mang từng phần qua. Chiếc dây người chở gốm tặng được anh dùng buộc lại bó cỏ đã xổ, không buộc vào người dắt la. Thanh Nghi giữ giấy trong áo, cùng Dư An qua trước. Đến lượt Xám, nó bước chậm nhưng không đứng khựng như hôm qua. Ô Kê trong lồng lại hoàn toàn không chịu yên, cứ lấy mỏ gõ vào nan tre.
“Ngươi nhớ đường rồi à?” Bảo hỏi Xám.
Con la vươn mõm về phía bó cỏ. Hổ nói: “Nó nhớ thứ kia.”
Qua khỏi đoạn sạt, cả nhóm nghỉ bên gốc cây lớn. Bảo ngồi duỗi chân theo lời Dư An dặn, mắt nhìn xuống cuốn sổ. Trên một trang là tên điểm tập kết ngoài bến Tây và số giấy giao; trang sau ghi ngày giữ hòm cùng tin người đại diện đã tới. Mấy dòng chữ nằm gần nhau, nhưng giữa điểm tập kết và hòm vẫn còn khoảng trống mà họ chưa có giấy để lấp.
Thanh Nghi ngồi cạnh hắn. Nàng lấy lá thư vừa nhận đọc lại, đưa tay vuốt nếp gấp. Bảo hỏi nàng có biết người đại diện là ai không.
“Trong thư không ghi tên. Ta chưa biết.”
“Nếu người ấy bảo chiếc lệnh là của họ?”
“Ta sẽ hỏi họ có giấy nào nói về chiếc lệnh, không chỉ về chiếc hòm.” Nàng ngừng một lát. “Nhưng ta cũng cần đưa ra căn cứ của mình. Ta không thể yêu cầu người khác tin chỉ vì ta nói đã mất.”
Bảo chạm vào bản chép số chuyến. “Giấy này có ích không?”
“Có. Nó giúp nối chiếc hòm với nơi đã giao đến kho. Còn chuyện lệnh được giao cho ta trước khi bị lấy, ta đang nhờ tìm giấy gốc.”
Hắn gật đầu. Hôm nàng gửi thư về ngoại viện, họ đã dặn người nhận tìm và báo loại giấy, không tự đưa bản gốc cho người chuyển chưa rõ cách giữ. Chưa có hồi âm, không thể lấy một bản chép đường đi của hòm thay cho giấy ấy.
Chiều xuống, nhóm đến trạm nghỉ sau rặng tre. Bà chủ thấy họ quay về thì tưởng đường phía trước đã bị cắt. Hổ kể chuyện lá thư và nói nhóm đã qua được đoạn sạt, nhưng mép đất vẫn yếu. Bà nghe xong, dẫn Xám vào chỗ buộc dưới mái, còn hỏi Thanh Nghi có cần nhận thư tại đây nữa không.
Nàng nói chỉ nghỉ một đêm, sáng mai lên trạm kho. Bà kiểm tờ ghi ở bàn: ngoài phong thư người đưa tin đã mang theo, chưa có thư khác. Bà sẽ gửi về kho nếu có thư chuyển tới sau khi nhóm đi.
Bảo hỏi bà cụ và cậu bé chân trầy. Bà chủ bảo vết thương đã khô, hôm qua cậu còn chạy ra đầu ngõ, bị bà bắt về ngồi nhặt đậu. Hắn nghe vậy mừng, nhưng không chạy sang thăm vì trời đã tối và đường vào xóm có nhiều vũng nước.
Bữa tối có canh rau và cơm nóng. Bảo ăn hai bát, đến bát thứ ba thì ngập ngừng nhìn Thanh Nghi. Nàng đang tính tiền phòng, thấy hắn nhìn liền đẩy đĩa rau về phía hắn.
“Có chuyện gì?”
“Cháu nghĩ đến người ở kho. Không biết người ấy đã ăn chưa.”
Hổ đặt đũa xuống. “Nếu chưa, em định mang bát cơm này lên cho họ?”
“Cháu định ăn trước, mai hỏi sau.”
Dư An bật cười. Bảo xới thêm một ít cơm, chia phần rau còn lại cho mọi người trước khi vét nốt đĩa. Bà chủ đi ngang, nhìn nồi cơm gần hết rồi bảo bếp vẫn còn khoai. Hắn nhận một củ nhỏ mang để dành cho sáng mai.
Đêm ấy, Bảo ngủ không yên. Hắn mơ thấy chiếc hòm được khiêng qua sân kho; hắn gọi mãi nhưng người khiêng không dừng. Lúc chạy tới, hắn phát hiện mình đi dép của cậu bé hôm trước, hai chiếc rộng quá, mỗi bước lại tuột một chiếc. Hắn cúi nhặt, ngẩng lên thì hòm đã biến mất.
Hắn tỉnh dậy, nghe tiếng Xám thở ngoài cửa sổ. Trong bóng tối, chiếc túi giấy của Thanh Nghi vẫn đặt cạnh đầu giường nàng. Hắn sờ đôi dép của mình dưới phản, xếp chúng sát nhau rồi nằm xuống. Lần sau tỉnh lại, trời đã sáng.
Trên đường lên Hắc Nha Pha, nước qua khe hôm trước đã nhỏ đi. Hổ vẫn dò đá trước khi dắt Xám, nhưng cả nhóm không cần tháo hết tải. Bảo mang túi lương nhẹ; qua khe, hắn tự báo Dư An rằng chân chỉ mỏi, không đau thêm. Ông bảo nếu tình trạng đổi thì nói ngay.
Gần trưa họ đến cổng trạm kho. Người ghi hàng trẻ ngồi trên chiếc ghế đã sửa, nhận ra Bảo thì đứng dậy. Anh dẫn họ tới bàn sổ, còn đi báo bà quản kho.
Người đại diện của bên gửi đang ở trong phòng cạnh kho. Đó là một người đàn ông trung niên, áo màu sẫm, cổ tay áo buộc gọn. Trước mặt ông có một túi giấy và chiếc chìa khóa nhỏ. Bà quản kho ngồi đối diện; người giữ sổ đứng bên bàn với quyển sổ nhận hàng.
Bà mời Thanh Nghi và Bảo vào. Hổ cùng Dư An ở ngoài sân trông Xám và đồ. Bảo vừa bước qua cửa đã nhìn chiếc chìa khóa, nhưng không hỏi ngay. Thanh Nghi đặt bản xác nhận giữ hòm lên bàn, chào bà quản kho và người đại diện.
Người đàn ông tự giới thiệu họ Phùng. Ông nói mình được chủ hàng giao tới nhận hòm, đưa một tờ giấy có số hòm và dấu của bên gửi. Bà quản kho đã xem giấy ấy; bà chỉ cho Thanh Nghi phần số hòm và ngày dự kiến giao, che những mục không liên quan.
“Ta không biết các vị đã hỏi từ khi nào,” ông Phùng nói. “Khi ta đến, bà quản kho nói có yêu cầu đối chiếu nên chưa giao. Ta cần đem hòm về, nhưng cũng muốn biết các vị nhận nhầm hay có điều gì khác.”
Thanh Nghi trình bày chiếc bao đen cùng Thái Huyền Lệnh số mười bảy bị lấy khỏi nàng tại kho giấy gần bến Tây. Nàng nói ngày gần đúng, nơi xảy ra việc và Bảo có mặt. Nàng không khẳng định chiếc hòm chính là nơi chứa vật bị mất; ghi nhận của kho khiến nàng có lý do xin đối.
Ông Phùng nghe hết, lấy từ túi giấy một tờ khác. “Ta được dặn nhận hòm nguyên niêm. Trong giấy của ta có ghi một chiếc bao đen, không ghi vật bên trong. Ta chưa từng xem chiếc lệnh nào trong ấy.”
Bảo nhìn chìa khóa trên bàn. “Vậy chìa khóa dùng làm gì?”
“Khóa hòm. Ta mang tới để khi nhận xong thì mở kiểm hàng với người của mình. Hôm nay hòm vẫn niêm, ta chưa dùng.” Ông đẩy chìa ra giữa bàn. “Nếu phải mở để đối, ta muốn có người quản kho ở đó và ghi rõ những gì lấy ra.”
Bà quản kho nói bà cũng muốn như vậy, nhưng trước hết cần làm rõ bên gửi có đồng ý mở và đối chiếu trong lúc có tranh chấp hay không. Ông Phùng có giấy nhận, không có lời ủy quyền quyết định việc giao vật cho người khác. Ông có thể gửi câu hỏi cho chủ hàng, song chưa thể tự hứa sẽ trao chiếc lệnh.
Bảo thấy khó chịu. Chìa khóa đã ở trước mắt, hòm chỉ cách mấy bức tường; vậy mà họ vẫn phải hỏi người không có mặt. Hắn đặt hai tay lên đầu gối để khỏi chạm vào chiếc chìa.
Thanh Nghi lấy bản chép mục giao nhận. Nàng chỉ số hòm, ngày kho nhận và số giấy chuyến hàng. “Ta đã nhờ tìm bản gốc giấy liên quan đến chiếc lệnh của mình. Ta cũng xin tra chuyến đưa hòm tới đây. Trong lúc chờ, ta muốn biết bên gửi nhận chiếc bao này từ đâu.”
Ông Phùng nhìn số chuyến. Ông nói người giao hòm cho trạm là người chở hàng của tuyến, còn trước đó hòm được nhận tại điểm tập kết. Ông chỉ được giao mang hòm về, không trực tiếp nhận chiếc bao. Ông có thể hỏi chủ hàng về giấy nhận tại điểm tập kết, nhưng không biết giấy ấy ghi tới mức nào.
“Ông chưa xem bao, chưa biết lệnh ở trong,” Bảo nói. “Sao ông chắc nó là hàng của các ông?”
Ông Phùng nhìn hắn. “Ta chắc ta được giao nhận hòm này. Còn vật trong bao là của ai, chính vì chưa biết nên ta mới ngồi đây.”
Bảo định cãi, rồi nhìn tờ giấy ông đặt trước mặt bà quản kho. Trên đó có số hòm, giống số trong bản chép của Thanh Nghi. Nó cho thấy ông có việc đến nhận hòm, cũng như bản chép của họ cho thấy hòm đã đi tới kho. Không tờ nào tự nói được chiếc lệnh trước đó thuộc về ai.
Người giữ sổ lấy mảnh giấy gấp có chi tiết Thanh Nghi đã gửi riêng. Dấu gấp còn nguyên. Ông đặt trước bà quản kho, nói chưa mở và chưa tiết lộ nội dung. Bà hỏi Thanh Nghi có muốn tiếp tục giữ kín đến khi thống nhất cách đối không. Nàng đồng ý.
Cuộc trao đổi tạm dừng khi ngoài sân có người gọi bà quản kho. Trước khi đi, bà nói hòm vẫn được giữ theo thời hạn đã ký; chiều bà sẽ trở lại bàn việc liên lạc với chủ hàng. Ông Phùng cất chìa khóa, nhưng để túi giấy trên bàn cho người giữ sổ trông giúp.
Bảo theo Thanh Nghi ra cửa. Hổ đã mua bánh nóng, đưa mỗi người một chiếc. Bảo cắn một miếng, vỏ bánh giòn làm hắn suýt bỏng lưỡi. Hắn thổi rồi nhìn về cửa kho.
“Người ấy không giống người ở kho giấy,” hắn nói nhỏ.
“Ngươi không thấy rõ mặt người lấy bao.” Thanh Nghi nhắc.
“Vâng. Cháu chỉ biết cái áo xám và chiếc móc. Ông Phùng không kể ông ấy từng ở đó, cháu cũng không thấy chiếc móc.”
Nàng gật đầu. Họ có thể hỏi ông Phùng những gì ông biết về đường đi của hòm. Còn người đã lấy chiếc bao, hiện họ chưa có đủ điều để chỉ vào ai.
Bảo ăn hết bánh, giữ lại mẩu nhỏ cho Ô Kê. Con gà mổ vào tay hắn, rồi nhảy xuống cạnh chiếc ghế đã sửa. Dưới chân ghế, miếng gỗ chêm hôm trước vẫn nằm yên, dù một góc đã bị mưa làm sẫm màu.