Chương 408: Chiếc Bàn Qua Ngõ
Bảo nhận ra chiếc bàn dài trước khi nhìn thấy người khiêng.
Hai đầu bàn nhô ra khỏi ngõ, ở giữa là Hổ và người hàng xóm nhà cuối ngõ. Họ đi chậm, mỗi người giữ một đầu. Người hàng xóm vừa nhắc anh tránh hòn đá trước bức tường thấp thì một chân bàn khẽ rung.
“Dừng,” Hổ nói.
Hai người đặt bàn xuống. Chân bên ngoài đã lỏng từ trước, mộng gỗ trượt thêm khi họ đi qua chỗ gồ. Người hàng xóm nhìn chiếc chân, bảo chủ bàn đã dặn như vậy, nhưng không nghĩ nó lỏng nhanh đến thế.
Bảo chạy ra, định giữ chân bàn cho họ khiêng tiếp. Hổ lắc đầu. Anh xem chốt, thấy có thể buộc tạm để mang bàn về mà không kéo lê chân, nhưng vẫn phải hỏi chủ bàn trước khi tháo hoặc sửa. Người hàng xóm đề nghị quay lại báo, rồi chạy về cuối ngõ.
Bảo đứng cạnh chiếc bàn. Hắn có thể tưởng tượng nó nằm dưới mái hiên từ đường, đủ chỗ cho nhiều người đặt bát. Nhưng lúc này nó chắn một phần đường, và một chân chỉ còn giữ được nhờ tay Hổ. Hắn nhờ Tín lấy hai chiếc ghế thấp kê dưới mặt bàn, để Hổ không phải giữ mãi.
Khi người hàng xóm quay lại, chủ bàn đi cùng. Bà xem chỗ mộng lỏng, nói có thể tháo chân ra để mang riêng, miễn giữ lại chốt cũ. Hổ hỏi bà có muốn anh sửa luôn không. Bà đáp cứ mang về dùng nếu kê được, sau bữa ăn bà sẽ nhờ người trong nhà sửa. Anh gật, tháo chân lỏng theo lời bà, bọc chốt trong mảnh vải.
Bảo nhận mang chiếc chân. Nó dài gần bằng cánh tay hắn, một đầu có vết cũ do từng bị nước ngấm. Ô Kê đi theo, thấy đầu chân bàn kéo qua cỏ liền mổ một cái. Bảo nhấc cao hơn, bảo nó đừng ăn gỗ. Con gà chạy vòng qua hắn, theo Hổ về sân.
Tại từ đường, Hổ kê phần bàn lên những chiếc ghế chắc, để chiếc chân và chốt gỗ bên cạnh. Chủ bàn tự xem cách kê, đồng ý cho dùng nếu không đặt nồi nóng ở góc thiếu chân. Thanh Nghi viết lời dặn vào giấy, đặt ở góc bàn để người phụ bày bát nhìn thấy. Bảo muốn thử xếp đủ bát, nhưng Tín nhắc còn phải lau bàn và hỏi chủ bàn có muốn giữ khăn phủ không. Bà bảo có, khăn cũ ở nhà bà; nếu cần phủ thì dùng khăn khác.
Ông giữ danh sách ngồi trên hiên xem. Hắn đưa ông bản vẽ con đường hôm qua. Ông so với lời Hổ kể, chỉ một chỗ cần thêm đoạn dốc ngắn. Người hàng xóm xác nhận đoạn ấy có nước đọng lúc mưa. Bảo sửa, rồi viết thêm: *Bàn đã được chủ đồng ý tháo một chân để mang; chốt để riêng.*
“Đường đi mà ngươi viết cả chuyện chiếc bàn?” ông hỏi.
“Để lúc trả con nhớ mang chốt.”
Ông cười. “Vậy giữ tờ ấy đến cuối bữa.”
Đầu chiều, bác giữ dây nhắn muốn gặp Hổ như đã hẹn. Bác đã ăn và còn đủ sức ngồi. Cô em mang đoạn dây tập sang nhà, Hổ theo cô. Bảo đang trực; hắn nhờ Tín mang giúp bát canh qua cho người chị, người đang thay ngoài giếng.
Một lúc sau, người chị đến cửa phòng trực, gọi nhỏ. “Bảo, cháu có thể ra đây một chút không?”
Hắn nhìn bát nước và đèn. “Có chuyện gì ở giếng?”
“Ở quầy thịt. Ta thấy tay Thôi thúc khác hôm qua, nhưng không chắc.”
Bảo đứng bật dậy. Từ chỗ hắn ngồi không nhìn rõ chiếc bàn thịt bên kia khoảng sân. Hắn gọi Thanh Nghi đang ở gian chính. Nàng vào xem cùng hắn, nhận ca sau khi cả hai ghi giờ và mực nước. Hắn định chạy, nàng giữ hắn lại một nhịp.
“Gọi Dư An. Đừng chạm vào dao.”
Tín đi tìm Dư An. Bảo cùng người chị đến quầy. Thôi Đại Tráng vẫn đứng sau bàn, một tay giữ dao, tay kia ở gần thớt. Mép vải phủ góc bàn đã được người chị vén lên từ trước để nhìn rõ hơn. Hắn cúi nhìn tay cầm dao. Khoảng giữa lưỡi dao và thớt trông có vẻ nhỏ hơn hắn nhớ, nhưng hắn đã không đứng đúng chỗ ông Lộc từng vẽ, lại không có tờ hình trong tay.
“Chị thấy thế nào?” hắn hỏi.
“Ngón tay gần cán dao hình như cong hơn. Ta mới nhìn một lần, không dám chắc.”
Hắn gọi: “Thôi thúc?”
Không có tiếng đáp. Gió làm mép vải động. Bảo muốn chạy vòng ra phía sau, nhưng khoảng sau bàn hẹp và lưỡi dao vẫn hướng xuống thớt. Hắn đứng ở đầu bàn, gọi lần nữa. Lần này hắn nghe một tiếng rất nhỏ, như hơi thở mắc trong cổ, nhưng tiếng gió cũng lọt qua mái che.
Dư An đến cùng Tín. Ông hỏi họ đã thấy và nghe gì. Người chị kể về ngón tay; Bảo nói mình nghe một tiếng nhưng không chắc. Dư An không bảo đó là tiếng của Thôi thúc. Ông quan sát khoảng cách giữa bàn tay, cán dao và mặt thớt, rồi nhờ Tín giữ người qua đường tránh đầu bàn.
“Chúng ta cần để ông ấy có chỗ nếu tay cử động,” ông nói. “Đừng đứng sát lưỡi dao.”
Hổ vừa về từ nhà bác giữ dây, nghe tin liền đến. Anh nhận đứng phía lối đi, giữ khoảng trống quanh quầy. Người chị đưa ông Lộc đến sau; ông còn giữ bản vẽ vị trí bàn và dao. Ông đặt tờ giấy lên một chiếc ghế cách quầy, chỉ chỗ mình từng đứng. Bảo cùng ông nhìn từ vị trí ấy. Nét vẽ không đủ chính xác để kết luận, nhưng mọi người đều thấy cần tiếp tục trông.
Dư An gọi tên Thôi Đại Tráng, nói ông đang ở quầy, có người quen bên cạnh. Ông không nhận được câu trả lời. Bảo lấy một chiếc ghế đặt gần nhưng ngoài tầm dao, ngồi xuống. Hắn nhớ ngày sinh nhật có bát thịt kho, nhớ con dao nhỏ Thôi thúc từng mài cho mình. Hắn muốn kể hết, nhưng chỉ gọi một tiếng: “Con về rồi.”
Không ai thúc ông đáp. Tín đem nước tới, đặt ở chỗ sạch xa thớt. Người chị xin đổi lượt trông giếng để có thể ở đây thêm một lát. Hổ hỏi cô em đang ở đâu; cô em vừa từ nhà bác giữ dây trở lại, đồng ý thay chị một lượt. Hổ ghi điều đó để bác biết ai đang trông.
Bảo nghe tiếng gõ nhẹ. Lần này là cán dao chạm vào cạnh thớt. Hắn ngẩng lên. Bàn tay Thôi thúc đã hạ xuống một khoảng rất nhỏ; lưỡi dao vẫn trong tay ông, chưa rơi. Dư An cũng thấy. Ông bảo Hổ gọi bà Mạnh, còn Tín tiếp tục giữ lối đi. Bảo ngồi yên, hai tay bấu vào mép ghế.
“Thôi thúc,” hắn nói, “dao đang ở trong tay thúc. Chúng con ở đây.”
Hàng mi của ông dường như rung. Bảo không dám chắc, nhưng lần này Dư An tiến gần vừa đủ để nhìn mặt, rồi gọi tên ông lần nữa. Một hơi thở thoát ra, rõ hơn lần trước. Bảo nhìn Dư An; ông gật, bảo hắn nói chậm và đợi.
Thôi Đại Tráng chưa mở mắt. Bàn tay còn lại nhúc nhích sát mặt thớt. Dư An nhờ Hổ, trước khi đi gọi bà Mạnh, kê chiếc ghế khác ở lối sau quầy để nếu ông muốn ngồi sẽ có chỗ. Hổ đặt ghế rồi chạy đi. Không ai cố giật dao khỏi tay ông; Dư An giữ khoảng cách và nói với ông vị trí chiếc ghế.
Người chị đứng cách đó, đưa hai tay lên miệng. Bảo muốn nói với cô rằng Thôi thúc đã tỉnh, nhưng ông vẫn chưa mở mắt hay đáp lời. Hắn chỉ nói: “Cháu thấy tay thúc động.”
Cô gật. “Ta cũng thấy.”
Bà Mạnh đến, đi chậm cùng Hổ. Bà nhìn người sau quầy, sau đó bảo mọi người nói từng người một để ông dễ nghe. Dư An nói ông đã thấy tay và nghe hơi thở. Bà gọi tên Thôi Đại Tráng, kể ngắn rằng bà đang ở cạnh quầy, Bảo cũng có mặt.
Mí mắt ông mở ra một khe. Ánh nhìn chưa dừng ở ai. Bảo suýt lao tới, nhưng nhớ lưỡi dao và chiếc bàn ở giữa, hắn đứng dậy chậm, vẫn ở phía đầu quầy. Ông nhìn về phía âm thanh, môi mấp máy, chưa thành tiếng.
“Đừng vội nói,” Dư An bảo. “Nếu nghe được, ông thử buông lỏng tay. Có ghế ngay sau lưng.”
Ngón tay giữ dao nới ra một chút rồi siết lại. Hổ đứng ở phía bàn trống, hỏi ông có muốn Hổ đỡ con dao không. Ông chưa trả lời. Bảo nhìn bàn tay ấy, thấy mình cũng đang nắm chặt vạt áo. Hắn buông ra, đặt tay lên đầu gối để Thôi thúc không thấy hắn giục.
Một lúc lâu sau, ông quay mắt về phía Bảo. Hắn nhận ra ánh nhìn ấy trước cả khi ông nói. Ngày còn nhỏ, mỗi lần hắn đứng chờ bên quầy, Thôi thúc thường nhìn hắn như vậy rồi hỏi có mang bát không.
“Con đây,” Bảo nói.
Thôi Đại Tráng hít vào, môi lại động. Âm thanh ra rất khẽ, chưa đủ nghe thành lời. Dư An bảo ông nghỉ, không cần cố. Bà Mạnh nhờ Tín mang chiếc khăn sạch và thêm ghế cho người nhà nếu có người đến. Ông Lộc nhận đi hỏi những người gần quầy có biết ai cần được báo; ông không tự nhận mình biết gia đình Thôi thúc ở đâu.
Chiều xuống, bàn tay ông vẫn giữ dao, nhưng đã có thể cử động từng ngón. Dư An ở lại cùng Hổ, còn Bảo về phòng trực khi Thanh Nghi gọi thay. Hắn đi qua giếng, nghe cô em báo dây vẫn yên. Hắn kể thật ngắn: Thôi thúc đã mở mắt, đang có người ở cạnh; ông chưa nói rõ.
Bảo vào phòng, cùng Thanh Nghi xem bát nước và đèn. Nàng hỏi hắn có muốn nàng ở lại thêm không. Hắn nhìn cuốn sổ ca, nhớ lời mình đã hứa trước bữa cơm. “Con nhận lượt này. Nếu Thôi thúc cần gì, chị nhờ người gọi con.”
Hắn ngồi xuống, ghi giờ. Ngoài sân, tiếng người nói chuyện thấp hơn thường ngày. Một chiếc bàn dài đã được mang về để bày cơm; bên kia giếng, một bàn tay vừa động bên chiếc thớt cũ. Bảo đặt bút xuống, lắng nghe từng tiếng bước chân đi qua cửa.