Chương 193: Nước Chảy Qua Khe Đá
Sáng hôm sau, Tạ Tiểu Bảo đặt chân xuống đất rất chậm.
Đầu gối không đau nhói, nhưng hơi cứng sau chuyến lên núi. Hắn ngồi một lúc, duỗi chân như Dư An dặn rồi mới xỏ giày. Trên bàn, bản ghi sân đá nằm cạnh tờ chín vòng; chiếc nồi vẫn được bọc vải phía trong.
Bảo lấy khăn tiền, đếm lại số đồng đã có. Hôm qua hắn không mua bánh; hôm nay hắn lấy một đồng, tới nhà ăn. Cháo nóng, bánh mới ra khỏi nồi hấp. Hắn ăn hết cháo, giữ bánh cho tới khi Lâm Hổ ngồi xuống.
“Ngươi định đem bánh lên núi lần nữa?” Hổ hỏi.
“Ta định ăn ở đây.”
“Vậy sao còn chờ?”
“Ta chờ ngươi.”
Hắn bẻ bánh làm đôi. Hổ nhận nửa chiếc, hỏi hôm qua bệ đá lớn bằng cái bàn nào. Bảo nhìn quanh, chọn một chiếc bàn thấp gần cửa, rồi bảo bệ có thể rộng hơn một chút nhưng hắn chưa đo. Hổ đứng dậy bước tới bàn; Bảo gọi lại.
“Ngươi định làm gì?”
“Xem có đặt được mấy bát cơm.”
“Trên núi không có bát.”
“Ta đang hỏi cái bàn.”
Người múc cháo đi qua, đưa cho Hổ hai cái bát rỗng. Hắn đặt thử, thấy còn nhiều chỗ. Bảo cũng đặt bát mình xuống, nhưng người múc nhắc những bát ấy cần đem rửa. Họ trả ngay; cái bàn lại trống.
“Bệ trên núi có chân không?” Hổ hỏi.
“Là đá xây thấp. Ta không thấy chân.”
“Vậy nếu đặt nồi thì ai nhấc?”
Bảo không trả lời. Chiếc nồi của hắn chưa được mang lên, và không ai bảo đặt nó ở bệ. Hắn uống nốt cháo, lấy tờ ghi sân đá ra, viết thêm câu hỏi của Hổ ở mép giấy.
Trên đường tới phòng Hứa Đồng, hắn ghé khu nuôi. Người coi báo Ô Kê ăn hết phần kê hôm qua, nước còn. Bảo thay nước và kiểm chốt; con gà đứng đợi tới khi hắn lùi khỏi máng mới cúi đầu uống.
Ở phòng, Thanh Nghi đang cùng Hứa Đồng đối hai bản ghi. Nàng chép được vài nét trên bia, có những chữ hai người đều thấy, có chữ chỉ một người đọc chắc. Hứa Đồng đặt hai bản cạnh nhau, không chọn chữ nghe hợp hơn khi nét còn thiếu.
“Đầu gối ngươi thế nào?” nàng hỏi Bảo.
“Hơi cứng lúc sáng. Đi chậm thì đỡ.”
“Ta cũng vậy. Dư An bảo chiều tới xem lại.”
Hứa Đồng chỉ một dòng trên bia, nơi Bảo đã để trống phần cuối. Thanh Nghi đọc được hai nét, nhưng chúng có thể thuộc hơn một chữ. Ông hỏi liệu có người ở chân núi từng chép tên trên bia không; ông Từ đã nhận hỏi, chưa có lời về.
Bảo nhớ lối nước bị lá chặn. Người trông đường đã đồng ý cho dọn lá rời trong lần tới, với người của ông cùng xem, không nhấc đá. Hắn hỏi có thể đi sớm không. Hứa Đồng bảo phải chờ người trông đường và xem chân hai người; nếu chỉ cần hỏi tên người cũ, có thể hỏi dưới chân núi trước, không nhất thiết lên ngay.
Lúc Bảo nhận ca, người trực trước báo có một tờ giấy từ Nhất Dực Hội. Người giữ sơ đồ đồng ý gặp Hứa Đồng để đối tên vùng, nhưng chỉ mang bản chép phần liên quan tới sân đá và con đường gần đó. Ông không giao toàn bộ sơ đồ cho ngoại viện.
“Có tên sân đá không?” Bảo hỏi.
“Ta chưa mở. Ông ấy hẹn sẽ giải thích khi gặp.”
Hắn ghi giờ hẹn, tên người mang giấy và người nhận. Người trực trước bàn giao thêm một việc về chuyến thùng rỗng đã đối xong; hai người ký giờ giao nhận, Bảo đặt sổ lên bàn.
Giữa ca, một người tới hỏi Hứa Đồng về cửa nhận hàng trong ngày mưa. Bảo chỉ người tiếp vận vì việc ấy thuộc chuyến đang giao, không tự lấy lời trong bản ghi sân đá để trả lời. Khi người kia đi, hắn nhìn chữ *cửa* trên tờ ca của mình. Từ đó có thể chỉ lối hàng, một chỗ ngồi, hoặc nơi trên sơ đồ của hội. Hắn không gộp chúng vào cùng một dòng.
Tới giờ thay ca, người trực sau đọc lại lời hẹn gặp người giữ sơ đồ. Bảo chỉ giờ và chỗ gặp, nói ông ấy sẽ mang bản chép, chưa đưa giấy hôm nay. Hai người ký bàn giao. Hắn ăn trưa với Thanh Nghi và Hổ: cơm, rau, đậu và canh.
“Ngươi có thấy nồi nào trên bệ không?” Hổ hỏi.
“Không.”
“Vậy ai đem đi?”
“Ta không biết đã từng có nồi ở đó không.”
Thanh Nghi đặt đũa xuống. “Có vết đen. Người dưới núi gọi bếp cũ. Hai điều ấy không nói được ai đã dùng.”
Hổ nhìn bát canh. “Nếu không có nồi, họ dùng cái gì?”
“Ngươi hỏi ông Từ khi gặp,” Bảo nói.
“Ta sẽ hỏi lúc ông ấy ăn xong.”
Chiều, người giữ sơ đồ tới cùng ông Từ. Ông Từ đã hỏi người ở chân núi về tấm bia; có một bà lão nhớ từng nghe cha mình kể nơi ấy là chỗ người đi núi dừng nấu nước, nhưng bà không nhận ra những tên Bảo chép. Bà không lên sân được, đồng ý cho ông Từ hỏi người khác.
Người giữ sơ đồ trải bản chép. Một tên địa hình trùng với tên ông Từ gọi khu núi, nhưng vị trí sân đá chưa được đánh dấu riêng. Ông chỉ một vòng trên bản và nói vùng ấy được gọi là một trong chín cửa trong sổ cũ của hội. Ông chưa có bản gốc của người đầu tiên đặt tên.
“Ông Từ có thể chỉ sân vào bản này không?” Hứa Đồng hỏi.
Ông Từ xem, nói bản không có tỉ lệ, chỉ có lối và vùng. Ông đặt ngón tay ở bên sườn của vòng, rồi rút lại: “Nếu chấm ở đây, người khác sẽ tưởng ta đã đo. Ta chỉ nói đường tới sân rẽ từ lối này.”
Bảo vẽ một mũi tên trên tờ nháp riêng, ghi *đường tới sân theo ông Từ*. Hắn không vẽ bệ đá ngay giữa vòng. Người giữ sơ đồ nói một chuyến hàng cũ từng đi gần khu ấy, nhưng phiếu chỉ ghi điểm nghỉ phía ngoài; muốn biết vì sao đi vòng phải hỏi người lập chuyến.
“Các ông có biết sân ấy để làm gì không?” Thanh Nghi hỏi.
“Ta biết trên sổ cũ có tên vùng. Ta chưa đọc tấm bia,” ông giữ giấy đáp.
Bảo đưa phần mình chép, có sự đồng ý của Hứa Đồng. Ông xem tên còn thiếu nét, không nhận ra. Lương nhận một bản chép những nét rõ để hỏi người đọc chữ cũ của hội; ông hứa báo cả khi không đọc được, nhưng chưa hẹn ngày.
Hổ tới sau buổi luyện, hỏi ông Từ cái bệ có thể đặt mấy cái nồi. Ông Từ kể người dưới núi gọi là bếp cũ, nhưng ông chưa thấy ai nấu ở đó. Hổ nghe xong bảo:
“Vậy câu trả lời là chưa biết.”
“Ừ.”
“Ta đã hỏi lúc ông ăn xong.”
Ông Từ nhìn chiếc bánh trong tay hắn. “Còn ngươi?”
“Ta chưa ăn.”
Hổ bẻ một miếng, mời ông và mọi người. Bảo nhận miếng nhỏ, không lấy cả bánh. Lương chỉ bản chép bia, hỏi nếu lần sau lên sân có thể đo khoảng cách từ bệ tới bia không. Ông Từ nói phải hỏi người trông đường về cách đo, nhưng dây đo đặt trên mặt sân khác với nhấc đá; ông sẽ chuyển lời.
Cuộc gặp kết thúc khi trời còn sáng. Không ai xin mang chiếc nồi của Bảo đi. Người giữ sơ đồ giữ bản của hội; Hứa Đồng giữ bản nháp ngoại viện; Bảo nhận lại phần ghi của mình.
Dư An xem đầu gối Bảo và Thanh Nghi vào cuối buổi. Ông bảo cả hai nghỉ thêm, nếu hôm sau ổn thì có thể tính việc gần; chuyến lên núi tiếp theo còn phải xem sau. Bảo hỏi việc ngồi ghi ở cửa có tính là nghỉ không. Ông đáp ngồi lâu cũng phải đổi tư thế, nhưng không giống leo dốc.
Tối, Hổ tới khu nuôi cùng hắn. Ô Kê đã có nước; Bảo chỉ kiểm chốt và thêm phần kê đã hẹn. Hai người ăn cơm, rau, canh. Bảo không mua thêm bánh; tiền còn sau chiếc bánh sáng, lương ghi cửa chưa tới kỳ.
Trong phòng, hắn đặt bản chép bia cạnh tờ chín vòng. Giữa hai tờ là mảnh giấy vẽ lối rẽ theo lời ông Từ. Hắn chưa nối sân đá với vòng tròn; hắn viết một câu hỏi ở mép giấy: *người trên bia có biết bếp không?*