Chương 278: Dấu Một Cánh Ở Trạm
Người coi tuyến về trạm khi Tạ Tiểu Bảo đang ăn bát cháo thứ hai.
Ông mang một chiếc túi vải ướt ở đáy, đặt xuống bàn rồi gọi người giữ trạm tới nhận giấy. Bảo nhận ra tờ bảng chỉ đường hôm qua vẫn còn một vệt bùn, nhưng người giữ trạm đã không cho ai cạo lớp sơn cũ.
Bảo ăn hết cháo, chờ hai người nói chuyện xong mới tới hỏi đường về phía thung lũng. Người coi tuyến mở túi, lấy bản ghi đã bọc giấy dầu. Ông nói đoạn đường chính đi qua Hắc Nha Pha hiện có một trạm kiểm của hội; chuyến hàng ông theo đã qua dốc ba hôm trước.
“Có thể đi đường khác không ạ?” Bảo hỏi.
“Có lối vòng qua mấy xóm phía trên. Ta chỉ đi tới xóm đầu, không biết đoạn sau mưa. Đường ấy nhỏ, có chỗ phải hỏi người địa phương trước khi dắt la.”
“Còn đường qua dốc?”
“Đoàn ta đi được. Người đi bộ cũng qua. Ta không hứa hôm các vị tới sẽ giống ba hôm trước.” Ông chỉ dấu trên bản ghi. “Ở trạm kiểm, họ ghi người và hàng qua lại. Ta không biết cách họ xử lý mọi loại giấy.”
Bảo nghe hai chữ “trạm kiểm” thì nắm mép sổ. Hắn hỏi thuộc hội nào. Người coi tuyến nói có dấu một cánh trên bảng và giấy nhận hàng; ông đã giao hàng tại đó, chưa gặp người phụ trách cao hơn. Ông không biết trạm có giữ đồ bị cướp năm trước hay không.
Thanh Nghi hỏi thời gian dự kiến đến dốc, chỗ có nước và nơi nghỉ. Người coi tuyến chỉ hai chỗ đoàn ông đã dừng, nói một chỗ có chuồng, chỗ kia chỉ là mái che. Ông cũng nhắc có đoạn dốc đá, người đánh xe thường giảm tải hoặc đi chậm.
Bảo chép cả hai đường. Hắn không viết đường nhỏ chắc chắn đi được chỉ vì nó tránh được tên Hắc Nha Pha. Người dẫn đoàn hàng của hôm qua đã hoàn thành việc giao ở trạm, hôm nay rẽ sang chợ, không đi cùng nhóm nữa. Bà nghe họ hỏi, nói lần trước qua dốc bà cũng thấy bảng một cánh và một người ghi hàng, nhưng chuyện ấy xảy ra trước mùa mưa.
“Con từng gặp cướp trên đường đó,” Bảo nói với mọi người sau khi ra khỏi bàn.
Hổ hỏi: “Khi ấy ngươi đi cùng đoàn Tống Ký phải không?”
“Ừ. Con nhớ người ta gọi nhau ở phía trước, rồi chúng con phải dừng. Đồ đạc bị xô lệch.” Hắn ngừng một lúc. “Con không biết người ở trạm bây giờ có liên quan tới chuyện ấy không.”
Hắn không muốn tỏ ra sợ trước mặt bạn, nhưng bàn tay đã ướt mồ hôi. Thanh Nghi không thúc hắn chọn. Nàng hỏi hắn có muốn xem lối nhỏ với một người biết đường trước không. Hắn đáp muốn hỏi thêm, nhưng không muốn tự đi xa khỏi nhóm.
Dư An tìm được một người bán thuốc ở chợ trạm, hỏi về lối qua các xóm. Ông bán thuốc nói tuần trước có người gánh hàng đến từ xóm thứ hai, nhưng ông không biết họ dùng đường nào. Ông khuyên hỏi người trông chuồng vì những người dắt gia súc thường ghé đó.
Người trông chuồng nhớ một đoàn nhỏ rẽ lên lối xóm cách đây mấy hôm. Họ để lại một con vật bị đau chân và đi bộ; ông không biết nó đau vì đoạn đường hay vì lý do khác. Sau đó chưa có ai dắt la xuống báo đường. Ông chỉ một người có thể biết, nhưng người ấy đã đi lấy cỏ, đến chiều mới về.
Bảo muốn đợi đến chiều. Hổ nhìn số cỏ còn lại và giá giữ Xám thêm một buổi. Họ có thể trả, nhưng phần dự phòng sẽ bớt. Dư An đề nghị dùng lúc chờ để ăn, kiểm dây và hỏi thêm chuyến chuyển thư. Không ai bảo Bảo phải quyết ngay.
Ở quán, hắn ăn một bát cơm với đậu. Người dẫn đoàn hàng ghé chào trước khi đi, trả lại chiếc khăn Thanh Nghi đã cho mượn lúc mưa. Nàng nhìn khăn còn ẩm, treo ở chỗ nắng thay vì cất cùng giấy. Bảo cảm ơn bà đã cho nhóm theo tới trạm. Bà đáp đường là của mọi người, chỉ cần mỗi đoàn tự giữ phần mình.
Buổi chiều, người đi lấy cỏ trở về. Ông từng dắt một con la qua lối nhỏ đến xóm thứ hai, nhưng đó là trước trận mưa gần nhất. Ông nói đoạn qua khe hẹp, nếu mang sọt hai bên có thể phải tháo. Từ xóm thứ hai sang hướng thung lũng, ông chỉ biết một người dẫn đường, không rõ người ấy hiện còn ở nhà không.
“Lối đó có tránh Hắc Nha Pha không?” Bảo hỏi.
“Theo đường ta từng đi thì không qua trạm kiểm ở dốc. Nhưng ta chưa đi hết từ xóm thứ hai tới thung lũng, không thể nói cậu sẽ ra chỗ nào.”
Bảo ghi lời ông, nhìn tờ đơn nghỉ. Cả nhóm đã đi lâu hơn dự tính vì bãi đá không qua được. Nếu chọn lối nhỏ, họ có thể tránh dốc, nhưng phải tìm người dẫn sau xóm thứ hai và chưa biết đường tiếp. Đường chính có trạm kiểm, nơi hắn không muốn gặp, song có người mới qua và những chỗ nghỉ rõ hơn.
“Ngươi muốn thế nào?” Thanh Nghi hỏi.
“Con muốn tránh dốc.” Hắn nói thật, rồi nhìn Xám dưới mái. “Nhưng con không biết đưa mọi người và Xám vào lối chưa rõ đến đâu.”
Hổ nói anh có thể đi cùng đường chính nếu Bảo chọn, và sẽ đi cạnh hắn như đã hứa. Dư An nhắc họ không cần hứa sẽ qua trạm kiểm ngay; tới gần có thể quan sát, hỏi người đi ngược chiều và quyết định. Thanh Nghi đồng ý, nói nàng sẽ giữ một bản ghi những khoản chung để nếu có người hỏi hàng hóa, họ biết mình đang mang gì.
Bảo chọn đường chính tới gần dốc. Hắn vẫn giữ tên người ở xóm thứ hai trong sổ, phòng khi phải đổi hướng. Hắn đến bàn hàng hỏi chuyến thư về ngoại viện. Người giữ trạm nhận một mảnh tin mới cho chuyến ngày mai: nhóm đã tới trạm núi, dự định đi đường chính về phía dốc, có thể về muộn. Ông ghi nơi giao là trạm lớn; Bảo trả phí và giữ bản nhận. Những lá gửi trước chưa có hồi âm ở đây.
Lúc kiểm đồ, hắn mở gói giấy trong phòng. Bên trong có bản chép điểm chín, lời ông Lâm để lại, giấy nghỉ và các bản nhận tin. Hắn nhớ đến Thái Huyền Lệnh đã mất và tự hỏi những giấy mình đang mang có giúp tìm lại nó không.
Hắn trải từng tờ lên bàn. Thanh Nghi giúp hắn đọc chữ mờ; những tờ ở đây ghi chuyện gần đây và chuyến đi hiện tại. Chưa có gì trong số đó cho họ biết chiếc lệnh đang ở đâu. Bảo gói giấy lại, quyết định hỏi thêm khi tới gần dốc.
Hổ đi vào, đặt một bát nước cạnh cửa. “Xám đã ăn. Ô Kê muốn ăn cả dây buộc bao thóc.”
“Em sẽ cất bao lên cao.”
Hắn gom giấy trước khi ra chuồng. Con gà thấy hắn, mổ hai hạt thóc trong bát rồi nhảy lên thanh gỗ. Bảo cột bao lại, đặt xa lồng. Xám đứng bên máng; vệt hằn cũ trên lưng gần như không thấy. Hổ chỉ một chỗ đệm đã mỏng và nói sáng mai nên đổi miếng vải dày hơn.
Tối, chủ quán nấu canh đậu. Bảo ăn hai bát cơm, rồi nhìn sang Hổ. Anh cũng đang nhìn nồi cơm. Thanh Nghi đẩy nồi ra giữa, bảo còn đủ cho cả hai thêm một ít. Dư An ăn chậm, hỏi người chủ quán ngày mai có thể mua cơm nắm sớm không; bà nói được nếu họ báo số lượng trước.
Bảo lấy sổ, viết số phần cơm, cỏ và nước cần mua. Dưới đó là hai dòng đường: lối xóm chưa biết đoạn cuối, đường chính dẫn đến gần dốc và trạm kiểm. Hắn khoanh đường chính bằng nét chì nhạt, vẫn để dòng còn lại trong sổ.
Trước khi ngủ, hắn đặt túi giấy dưới chiếc khăn khô. Ngoài cửa, ánh đèn trạm chiếu lên bảng chỉ đường; dấu một cánh trên một tấm giấy giao hàng treo cạnh bàn còn hiện rõ trong gió.