Chương 283: Ngày Hòm Rời Kho
Sáng hôm sau, Thanh Nghi đem lá thư đã viết đến bàn nhận tin.
Người đàn bà giữ thư xem địa chỉ, nói chuyến về trạm núi đi vào cuối buổi. Từ đó thư phải chuyển qua trạm lớn mới tới được người nàng nhờ. Nàng trả phí chặng đầu, dặn nếu không có chuyến tiếp thì giữ thư ở nơi nhận, đừng đưa tùy tiện cho người tự xưng quen.
Tạ Tiểu Bảo đứng cạnh, tay cầm tờ có số hòm. Hắn muốn hỏi bao giờ có thể nhận lời đáp, nhưng người nhận thư đã nói không biết chuyến sau. Hắn chỉ nhờ ghi ngày thư được giao đến trạm núi, rồi giữ mảnh xác nhận.
Trong sân, mái kho đã được thay một phần ván. Người phụ trách trạm cùng người giữ sổ kiểm những kiện đặt tạm dưới hiên. Hổ dắt Xám tới chỗ có bóng râm, đặt lồng Ô Kê cách đống gỗ. Dư An mua nước nóng ở quán, rót vào bình của cả nhóm.
Thanh Nghi trở về, nói đã gửi thư hỏi người quen tìm giấy liên quan đến lệnh. Nếu có giấy, nàng muốn người ấy báo trước loại giấy và nơi giữ, không tự đưa bản gốc cho người chuyển mà chưa biết cách bảo quản.
“Lá thư chưa tới nơi,” nàng nói với Bảo. “Nếu chúng ta đi tiếp, cần cho trạm biết nhận câu trả lời ở đâu.”
Bảo gật đầu. Hắn nhìn về con đường rẽ qua dốc, rồi nhìn cửa kho. Tối qua hắn đã nghĩ đến chuyện ở lại cho tới khi chiếc hòm được mở. Sáng nay, tiền gửi Xám và ngày nghỉ còn lại đều phải tính; hắn không muốn bắt những người khác ở đây chỉ vì mình không chịu rời cửa kho.
Người giữ sổ ra khỏi kho với một tờ danh sách. Ông nhận ra hai người, nói muốn trao đổi trước khi họ lên đường.
“Ta đã tìm được lịch chuyển của hòm. Theo giấy gửi hiện tại, ba ngày nữa có đoàn tới nhận để đưa sang một kho khác.”
“Vậy lúc thư của ta tới, hòm có thể đã đi?” Thanh Nghi hỏi.
“Có thể, nếu không có yêu cầu giữ lại được chấp nhận.” Ông chỉ mục số hòm. “Ta đã chuyển lời trình bày của các vị cho người phụ trách. Chiều nay sẽ có người của tuyến đến, ta có thể hỏi họ cách tạm dừng giao.”
Bảo thấy bụng thắt lại. Hôm qua họ biết hòm còn ở đây, còn sáng nay đã có ngày chuyển. Hắn hỏi nếu hòm rời đi, trạm có biết nó tới đâu không.
“Nếu giao theo đúng sổ, ta sẽ có tên nơi nhận và giấy giao. Nhưng ta chưa thể cho cậu xem toàn bộ thông tin của người gửi. Câu hỏi của các vị vẫn được lưu cùng mục này.”
“Cháu muốn hòm ở lại đến khi đối xong,” Bảo nói.
“Cậu có thể yêu cầu. Ta không có quyền tự hủy lịch giao.”
Thanh Nghi xin một tờ giấy. Nàng viết rõ mình đề nghị tạm giữ hòm đang niêm trong lúc đối chiếu chiếc lệnh, và sẽ tìm giấy liên quan. Nàng hỏi người giữ sổ liệu trạm có thể chuyển lời đề nghị đến người gửi không. Ông đáp có thể chuyển ngay với thông tin họ đã ghi; nếu người gửi phản đối hoặc yêu cầu thêm giấy, ông sẽ báo.
Bảo hỏi: “Nếu người gửi bảo đây là đồ của họ thì sao?”
“Ta phải đối hai lời và những giấy có được. Ta không thể quyết chỉ bằng câu của một bên.”
Hắn nhìn dòng ngày chuyển. Hôm qua người giữ sổ nói hòm chưa có dấu xuất. Hôm nay ông lại cho biết nó sắp đi. Không phải ông đã hứa nó ở yên mãi; chính Bảo chưa hỏi lịch chuyển. Hắn lấy bút ghi ngày, rồi nhờ ông đọc lại phần mình chưa hiểu.
Trong khi chờ người của tuyến, cả nhóm không vào kho. Hổ đến quán mua cỏ cho Xám. Anh trở về với một bó nhỏ và một tin: người bán cỏ vừa từ phía thung lũng đến, có thể biết đường sau dốc. Bảo muốn hỏi ngay, nhưng Thanh Nghi đang xem lại giấy, nên hắn nói sẽ đi cùng Hổ và trở về trước giờ người của tuyến dự kiến tới.
Người bán cỏ là một bà đang xếp hàng cạnh giếng. Bà cho biết đường sau dốc có một trạm nghỉ và hai ngã rẽ; bà đi tới trạm nghỉ rồi quay lên, chưa vào Lạc Kê. Một cây cầu gỗ trên tuyến xa hơn từng bị hỏng, nhưng bà chỉ nghe người đi hàng kể, không biết tình trạng hiện tại.
Bảo ghi tên trạm nghỉ, hỏi có chỗ cho la không. Bà nói có sân buộc vật thồ, giá phải hỏi chủ. Hắn mua thêm một bó cỏ vừa đủ đến trạm ấy, không mua nhiều vì Xám đã mang gần đủ tải. Hổ xếp cỏ lên phía trên, chừa lỗ thoáng cho Ô Kê.
Trở lại, họ thấy một người đàn ông mặc áo ngắn đứng cạnh bàn trạm, trước mặt là danh sách hàng. Người giữ sổ giới thiệu ông phụ trách chuyến chuyển hòm. Thanh Nghi đưa bản trình bày; ông đọc kỹ, hỏi nàng có nhớ đặc điểm nào trên chiếc lệnh mà bản ghi trong sổ không nêu không.
Nàng nói một chi tiết mình nhớ, rồi dừng. “Ta có thể ghi riêng cho người đối vật. Ta không muốn nó thành lời mô tả được đưa cho bất cứ ai đến nhận.”
Người phụ trách chuyến đồng ý nhận mảnh giấy gấp, ghi tên mình trên mép ngoài và giao cho người giữ sổ trước mặt nàng. Ông không nói chi tiết ấy đúng hay sai; ông chưa mở hòm và không nhận mình đã nhìn vật.
“Về việc tạm dừng giao,” ông nói, “ta có thể báo người gửi ngay. Trong lúc chờ hồi âm, ta đề nghị không chuyển hòm cùng chuyến ba ngày nữa. Người quản kho phải xác nhận việc giữ và thời hạn.”
Người giữ sổ không ký thay người quản kho. Ông viết một phiếu đề nghị, ghi số hòm, ngày dự kiến chuyển và lý do có người yêu cầu đối. Bảo xem, nhắc thêm rằng chiếc lệnh bị lấy ở kho giấy gần bến Tây, không phải tại trạm này. Ông thêm địa điểm, đọc lại cho cả hai nghe.
“Phiếu này có làm hòm ở lại không?” Bảo hỏi.
“Chưa. Phải đợi người quản kho trả lời.”
Người phụ trách chuyến mang phiếu vào kho. Lát sau, ông trở ra cùng người quản: một người đàn bà tóc điểm bạc, tay cầm chìa và sổ nhỏ. Bà xem lời trình bày, hỏi Thanh Nghi có thể để một địa chỉ nhận thông báo và một người liên hệ hay không. Nàng đưa địa chỉ đã ghi hôm trước.
Bà ký xác nhận sẽ giữ nguyên niêm và tạm dừng chuyển hòm đến hết một khoảng ngày được ghi cụ thể. Trong thời gian đó, trạm sẽ hỏi người gửi và chờ thông tin giấy tờ từ Thanh Nghi. Nếu hết hạn mà chưa đối xong, bà sẽ báo theo địa chỉ đã nhận; việc gia hạn chưa được hứa trước.
Bảo đọc ngày hai lần. “Nếu thư đi chậm hơn khoảng này thì sao?”
“Các vị có thể gửi lời xin thêm thời gian. Ta sẽ xem lúc ấy, không thể hứa trước.” Bà chỉ chữ ký. “Hôm nay ta chịu trách nhiệm giữ hòm ở kho tới ngày này, không mở và không giao đi.”
Thanh Nghi xin một bản có chữ ký. Bà đồng ý; người giữ sổ chép lại số hòm, thời hạn và việc niêm còn nguyên. Nàng kiểm từng dòng rồi nhận. Bảo không gọi đó là giấy trả lệnh. Nó chỉ giữ cho chiếc hòm chưa rời nơi họ có thể tìm thấy.
Ở quán, họ ăn cơm muộn. Hổ đưa Bảo một cái bánh mua cùng cỏ. Hắn nhận, xé đôi, để một nửa cho anh. Dư An hỏi nhóm còn muốn đi tiếp hôm nay không; mặt trời đã ngả, tới trạm nghỉ sau dốc trước tối là điều chưa chắc.
Thanh Nghi nói nàng muốn ở lại một đêm. Sáng mai nàng sẽ hỏi có chuyến gửi thêm bản yêu cầu về ngoại viện không, đồng thời để người quản kho biết hướng họ đi. Bảo đồng ý; hắn cũng muốn viết tin cho Hứa Đồng về ngày có thể về muộn. Hổ kiểm tiền phòng và cỏ, Dư An tính phần thuốc còn lại. Họ quyết định sáng hôm sau lên đường nếu không có việc mới cần gặp trực tiếp.
Chiều, Bảo gặp người ghi hàng trẻ ở mái che. Anh đang sửa chiếc ghế bị tấm xà làm gãy hôm qua. Hắn hỏi có cần giữ chân ghế không. Anh gật đầu, đưa hắn một đầu. Hai người đóng lại thanh ngang, nhưng ghế vẫn hơi nghiêng. Hắn nhớ cái bàn Hứa Đồng đã chêm, tìm một miếng gỗ mỏng kê dưới chân. Người ghi ngồi thử, rồi đổi miếng chêm sang chỗ khác cho chắc hơn.
“Các vị từng qua dốc này lâu chưa?” anh hỏi.
Bảo nói mình đi cùng đoàn Tống Ký khi còn nhỏ, lúc ấy đoàn bị phục kích. Người ghi im lặng, nói anh tới trạm sau khi trạm được dựng, không biết chuyện đêm đó ngoài những gì nghe kể. Hắn không nói anh có mặt hay không; anh đã tự cho biết khoảng thời gian của mình.
“Ta muốn biết chiếc lệnh đã từ bến Tây tới kho thế nào,” Bảo nói.
“Người giữ sổ có thể tra những lần bàn giao. Ta chỉ ghi người qua đường.” Anh nhấc chiếc ghế, đặt lại cạnh bàn. “Nếu hỏi, cậu nhớ hỏi cả đoạn trước khi trạm nhận. Sổ ở đây chỉ bắt đầu từ lúc hàng tới.”
Bảo cảm ơn. Hắn ghi câu ấy vào sổ. Tên bến, số hòm và dấu niêm giúp họ tìm đúng vật, nhưng chưa nói được ai đã lấy chiếc bao khỏi hông Thanh Nghi hay nó đã đi qua tay những người nào.
Tối, Thanh Nghi đặt bản giữ hòm cạnh lá thư đã gửi. Nàng không giữ bản gốc ở ngoài ánh đèn lâu; sau khi Bảo đọc, nàng bọc giấy lại. Hắn nhìn ngày ghi trên đó, rồi đặt chiếc bút xuống. Ngoài sân, Ô Kê mổ vào cái bát rỗng, làm viên đá chèn bát lăn một vòng.